Giá tính thuế tài nguyên

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Tít bài báo trên nên đổi lại: “UBND tỉnh tăng giá tính thuế tài nguyên, doanh nghiệp xin trả lại mỏ cát.”

Doanh nghiệp đấu giá mỏ cát năm 2023, lúc mà giá tính thuế là 150 ngàn đồng/khối. Cuối 2023, UBND tỉnh Quảng Ngãi tăng giá tính thuế lên 230 ngàn đồng/khối. Doanh nghiệp sẽ phải nộp thêm 13,9 tỷ đồng nếu tiếp tục khai thác. Họ đã quyết định xin trả lại mỏ.

Đây chính là một vấn đề rất lớn của ngành khoáng sản Việt Nam khi cho phép UBND cấp tỉnh quyết định giá tính thuế theo từng năm. Nó không khác gì việc cho thuê nhà 10 năm, nhưng giá thuê thì chủ nhà được phép thay đổi hàng năm.

Đối với cát, thời hạn khai thác ngắn, thường chỉ vài năm, đầu tư ban đầu không lớn, nếu có rủi ro thì dễ dàng thanh lý tài sản, mà việc tăng giá này đã có ảnh hưởng đến vậy.

Thử hỏi với những mỏ khoáng sản chiến lược như đất hiếm, thời hạn khai thác 20-30 năm, đầu tư ban đầu cực lớn gồm cả xây dựng mỏ và nhà máy chế biến đi kèm, nếu rủi ro thì không biết bán đi đâu, vậy thì ai dám xuống tiền khi không chắc về nghĩa vụ thuế của mình?

Thuế tài nguyên, được tính bằng tích của 3 tham số: sản lượng khai thác, giá tính thuế, và thuế suất. Thuế suất thì chỉ có Quốc hội và UBTVQH được phép điều chỉnh, nhưng giá tính thuế lại đang cho phép UBND cấp tỉnh quy định từng năm theo khung trần sàn của Bộ Tài chính.

Xác định giá tính thuế tài nguyên là một vấn đề thú vị. Về lý thuyết, giá tính thuế chính là giá khoáng sản bán ra. Nhưng nếu để doanh nghiệp tự kê khai giá này thì nguy cơ chuyển giá rất cao. Doanh nghiệp chỉ cần móc nối với bên mua, ghi giá trên hợp đồng thấp hơn giao dịch thật, là có thể giảm đáng kể nghĩa vụ thuế.

Để chống lại điều này, có nhiều cách khác nhau.

Cách thứ nhất, khá thô thiển, là Nhà nước sẽ tự áp đặt một mức giá mà Nhà nước cho là hợp lý. Nếu giá của doanh nghiệp thấp hơn thì nộp theo giá Nhà nước ấn định. Cách làm này sẽ ổn nếu cán bộ khách quan, làm điều tra thị trường kỹ, và linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến thị trường. Trên thực tế, cả 3 điều này rất khó có được.

Ví dụ về tính khách quan. Nếu năm nào đó, một tỉnh nào đó thâm hụt ngân sách, UBND tỉnh sẽ có xu hướng đẩy giá tính thuế lên để thu thêm, bất chấp giá thực trên thị trường không tăng như vậy. Ở một tỉnh khác, doanh nghiệp “quan hệ” tốt với tỉnh thì UBND tỉnh sẽ hạ giá tính thuế cho loại khoáng sản mà doanh nghiệp đó khai thác, khoản chênh lệch chia nhau.

Cách thứ hai là dùng công cụ chống chuyển giá. Doanh nghiệp sẽ phải lập báo cáo để chứng minh giá bán của mình là phù hợp với thị trường (nguyên tắc arm’s length). Họ sẽ phải tìm kiếm giá của các giao dịch khác tương đương và chứng minh rằng giá của mình không thấp quá so với mặt bằng giá chung.

Cách này đánh vào đúng bản chất của vấn đề và hầu hết các quốc gia phát triển đều dùng. Tuy nhiên, nó cũng phải dựa trên một giả định là cán bộ thuế khi xem lại báo cáo này cũng phải khách quan và trung thực. Một điều mà mình cũng khá nghi ngờ sau khi nói chuyện với nhiều chuyên gia tư vấn thuế chuyên về chuyển giá.

Nhưng dù sao cách thứ hai này cũng cho phép thêm nguồn tin đầu vào (từ doanh nghiệp), thêm cơ hội tranh luận khi thanh kiểm tra thuế, và thêm nghĩa vụ giải trình (khiếu nại tố cáo). Dù nghĩa vụ thuế của cả hai phương pháp trên đều chưa thể xác định chính xác, nhưng phương sai của phương pháp thứ hai thấp hơn. Điều này cực kỳ quan trọng khi đầu tư dự án khai thác khoáng sản lớn vì phương sai nghĩa vụ thuế thấp thì rủi ro giảm, dự án dễ được rót tiền hơn.

Tất cả những phân tích trên khiến mình quay trở lại một mệnh đề bất di bất dịch trong ngành khoáng sản: Tài nguyên quốc gia sẽ là đòn bẩy thịnh vượng hay là lời nguyền đói nghèo lạc hậu, phụ thuộc vào sự trong sạch của chính quyền.

Nguồn: FB Duc Minh Nguyen

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”