Huy Đức và pháp quyền

Nhà báo Huy Đức
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Sau chín tháng bị tạm giam điều tra, ông Trương Huy San, tức nhà báo Huy Đức hay Osin Huy Đức, đã bị đưa ra xét xử sáng 27 Tháng Hai tại Hà Nội và bị kết án 2,5 năm tù giam tại phiên tòa sơ thẩm. Ông bị kết tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Khoản 2, Điều 331 của Bộ Luật Hình Sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Căn cứ để kết tội ông, theo bản án được Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) trích dẫn, là 13 bài viết đăng trên trang Facebook cá nhân tuy không cho biết đó là những bài nào. Ông Huy Đức có thể kháng cáo hoặc chấp nhận bản án và phải ngồi tù thêm 21 tháng nữa.

Ông Huy Đức là nhà báo nổi tiếng ở Việt Nam, tác giả bộ sách “Bên Thắng Cuộc” gồm hai tập về tình hình miền Nam sau năm 1975 nhưng không theo đường lối tuyên truyền của đảng. Bộ sách, xuất bản ở Hoa Kỳ và bị cấm lưu hành ở Việt Nam, được coi là quan trọng nhất về một giai đoạn lịch sử sau năm 1975 thường bị đảng CSVN tuyên truyền bóp méo.

Sau khi tu nghiệp ở Mỹ trở về năm 2013, ông tiếp tục đăng lên mạng nhiều bài viết về các vấn đề chính trị nóng bỏng, phản biện những chính sách về chống tham nhũng, và quản trị xã hội. Với 370.000 người theo dõi trên nền tảng Facebook, nhà báo Huy Đức là cây bút bình luận chính trị có ảnh hưởng nhất và nhiều lần chính quyền Việt Nam phải yêu cầu Facebook ngăn chặn những bài viết của ông.

Phiên tòa xử ông Huy Đức diễn ra nhanh chóng trong một buổi sáng, tên họ và hình ảnh của các thẩm phán và luật sư biện hộ đều được giữ kín. Theo TTXVN, tại phiên tòa, “bị cáo Trương Huy San thừa nhận hành vi của mình đã vi phạm Điều 331 – Bộ Luật Hình Sự và đồng ý với tội danh mà Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao truy tố.”

Nhưng ông Huy Đức khẳng định khi đăng các bài viết, “bị cáo không nhằm mục đích chống đảng, chống nhà nước” dù vẫn “ý thức được rằng 13 bài viết bị truy tố có xâm phạm đến quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân” và ông “lấy làm tiếc và xin chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước, trước các tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng bởi bài viết của bị cáo.”

Nhẹ, nặng hay vô tội?

Các tổ chức nhân quyền quốc tế như Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW), Văn Bút Hoa Kỳ, Phóng Viên Không Biên Giới (RSF)… đã nhanh chóng lên tiếng kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho ông dù theo thông lệ, Việt Nam hiếm khi đáp ứng những lời kêu gọi như vậy.

Ở trong nước, nhiều nhà báo, nhà hoạt động xã hội không ngạc nhiên mà cho rằng bản án 30 tháng tù của ông Huy Đức là nhẹ so với bản án của các nhà bất đồng chính kiến khác. Ông Phạm Viết Đào, nhà văn, từng bị 15 tháng tù cũng với tội danh tương tự ông Huy Đức, nói với đài Á Châu Tự Do (RFA): “Tôi không rõ chính quyền Việt Nam hiện đã bắt đầu thể hiện thái độ khoan dung, hay là vì một yếu tố gì khác mà họ lại dành cho Huy Đức mức án nhẹ nhàng.”

Luật Sư Nguyễn Văn Đài, một người bất đồng chính kiến từng bị tù và hiện tị nạn tại Đức, nhận xét: “So với những người từng có tiếng nói phản biện và từng bị xét xử theo Điều 331 trước đây thì đây là một bản án rất nhẹ nhàng.”

Nhẹ hay nặng tùy vào cách nhìn của từng người, nhưng điều quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là nhà cầm quyền không có căn cứ nào để kết tội ông Huy Đức, ông vô tội, vì bản thân cái điều luật 331 đã là một điều luật vi hiến, được đặt ra chỉ để tước đoạt quyền tự do ngôn luận của người dân.

Điều 25 Hiến Pháp do đảng CSVN soạn thảo năm 2013 nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” và cho đến nay chưa có điều luật nào cấm công dân phát biểu ý kiến về các vấn đề của đất nước, của xã hội một cách ôn hòa, không trái với các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống của dân tộc.

Hơn thế nữa, Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự Và Chính Trị năm 1976 của Liên Hiệp Quốc. Khoản 2 Điều 19 của Công Ước quy định “Mọi người có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tùy theo sự lựa chọn của họ.” Theo thông lệ, khi điều luật của một quốc gia mâu thuẫn với điều luật quốc tế thì phải ưu tiên vận dụng điều luật quốc tế; trong trường hợp này là Công Ước của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam là một thành viên.

Xét theo Công Ước của Liên Hiệp Quốc lẫn Hiến Pháp Việt Nam, hành vi đăng bài trên Facebook của ông Huy Đức phải được coi là không có tội. Việc kết án và giam giữ ông, dù chỉ một ngày, cũng là hành động phi pháp.

Xâm phạm cái gì?

Nếu nhà cầm quyền cho rằng, các bài viết của ông Huy Đức “xâm phạm đến quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân” thì cơ quan tố tụng phải làm rõ những bên bị hại là cá nhân nào, tổ chức nào, và định lượng mức độ thiệt hại mà ông Huy Đức gây ra cho họ. Đằng này, không một cá nhân hoặc tổ chức nào khiếu nại về thiệt hại của họ trước tòa án, cho nên phán quyết “xâm phạm” thực chất chỉ là lời vu cáo không có căn cứ.

Nếu bên bị xâm phạm là nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam như cáo trạng thì ít ra chính quyền Việt Nam phải cử đại diện ra trước tòa để tranh luận với bị cáo và luật sư, làm rõ trắng đen, cũng như xác định mức độ thiệt hại. Nếu tác giả các bài viết sử dụng thông tin sai lệch hoặc vu khống gây hại cho người khác thì cần bị xử lý tại tòa án dân sự, theo các tội danh về vu cáo, bôi nhọ chứ không thể áp dụng điều luật mơ hồ “lợi dụng quyền tự do dân chủ” – lợi dụng một thứ mà trong thực tế người dân Việt Nam chưa có.

Trong một vài bài đăng hồi Tháng Năm năm ngoái, mấy ngày trước khi bị bắt, ông Huy Đức viết Tinh thần pháp quyền đã chết,” “những gì ta đang chứng kiến cho thấy, hồn ma ‘pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền’ đang dần hiện về.” Ông cảnh báo nguy cơ khi quyền lực tập trung vào công an, “không thể cai trị dựa trên sự sợ hãi;” ông đánh giá việc tái lập các ban đảng thời ông Nguyễn Phú Trọng là “một bước lùi về chính trị.”

Những phát ngôn như vậy, cho dù có ảnh hưởng lớn, phải được coi là những lời phản biện chân thành của một trí thức có trách nhiệm, phải được khuyến khích thay vì trừng phạt. Nhà bác học Lê Quý Đôn từng khuyến cáo triều đình năm nguy cơ mất nước, trong đó nguy cơ hàng đầu là sĩ phu thức giả ngoảnh mặt trước thời cuộc. Khi trí thức bịt tai nhắm mắt không lên tiếng nữa là khi ấy đất nước đứng trước bờ vực sụp đổ. Những người dũng cảm lên tiếng như Huy Đức là rất cần thiết.

“Pháp quyền…” chỉ mị dân

Ông Tô Lâm lên cầm quyền tối cao và đưa ra những tuyên bố hùng hồn về “kỷ nguyên mới,” “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.” Ông khẳng định tại đại học Columbia University, Mỹ: “Con đường phát triển của Việt Nam không thể tách rời xu thế chung của thế giới và nền văn minh nhân loại.” Ông gây cho người ta ý nghĩ rằng, ông ta sẽ thúc đẩy pháp quyền, hạn chế tình trạng tùy tiện trong công tác xét xử và thi hành luật pháp.

Làm việc với Tòa Án Nhân Dân Tối Cao và hệ thống tòa án nhân dân cả nước hôm 14 Tháng Sáu, 2024, “Chủ tịch nước [Tô Lâm] yêu cầu phải tập trung xây dựng nền tư pháp hiện đại, chuyên nghiệp, pháp quyền, góp phần xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,” theo tường thuật của TTXVN.

Những tưởng trong “kỷ nguyên mới,” ông Tô Lâm sẽ cho xóa bỏ các điều luật vi hiến như Điều 109, 117, 331 – biến toàn dân thành những “tù nhân dự bị” – như kiến nghị của các trí thức và tổ chức xã hội dân sự. Ít ra ông cũng nên biết chấp nhận những tiếng nói phản biện ôn hòa để hiểu người dân nghĩ gì về chế độ của ông. Nhưng bản án tù cho ông Huy Đức, ông Trần Đình Triển chứng tỏ những lời hoa mỹ của ông Tô Lâm chỉ mị dân, lừa bịp những kẻ nhẹ dạ cả tin vào sự khoan dung của chế độ.

Ông Huy Đức có lẽ biết trước cái kết cục mà ông phải gánh chịu. Trong cuộc phỏng vấn với tạp chí Nghiên Cứu Việt Nam (JVS) tại California năm 2013 về khả năng bị bắt khi trở về Việt Nam sau khi xuất bản bộ sách gây chấn động “Bên Thắng Cuộc,” ông Huy Đức nói rằng: “Không ai tự do lại chọn ngồi tù. Nhưng trong một số trường hợp, để bảo vệ quyền tự do, ngồi tù là điều không thể tránh khỏi. Nếu mọi người đều tránh tù tội, chúng ta sẽ không bao giờ đạt được tự do.”

Bây giờ dù ông Huy Đức đang ngồi tù ở một nơi “tinh thần pháp quyền đã chết,” như nhận định sâu sắc của ông.

Hiếu Chân

Nguồn: Người Việt

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”