Khách du lịch Trung Quốc đang tàn phá Việt Nam

Lượng du khách Trung Quốc đến Việt Nam ngày càng tăng đồng thời mang theo nhiều hệ lụy. Ảnh bizlive.vn
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Báo Người Lao Động hôm 7/3 dẫn lời ông Bí thư Đà Nẵng Trương Quang Nghĩa phát biểu tại buổi làm việc với Sở Du lịch TP Đà Nẵng cho biết, đang có tư tưởng ghét bỏ, sợ khách Trung Quốc. Bí thư Đà Nẵng khẳng định tư tưởng như vậy là điều không đúng. Ông còn cho rằng, không có khách nước nào dễ phục vụ như khách Trung Quốc. Vì vậy, không nên chê hay tẩy chay du khách Trung Quốc.

Phát biểu và sự kỳ vọng của ông Nghĩa đối với nhóm du khách Trung Quốc đang gặp phải nhiều chỉ trích trong dư luận. Không thể phủ nhận khách du lịch Trung Quốc đã và đang mang đến cho Đà Nẵng cùng nhiều địa phương khác những nguồn thu. Tuy nhiên, nhiều bài báo và đoạn video được lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội cũng cho thấy những mảng tối khác của vấn đề này.

Người Trung Quốc đến Đà Nẵng ngày càng đông, hình thành nên những “phố Trung Quốc” giữa lòng thành phố. Nhưng nhiều trong số đó nhập cảnh Việt Nam với thị thực du lịch rồi làm việc trái phép. Đó là chưa nói tình trạng người Trung Quốc núp bóng người Việt để mua đất, mở nhà hàng, khách sạn. Có nghĩa là họ trốn thuế khi kinh doanh ngay trên đất Việt Nam. Điển hình như mô hình Tour 0 đồng, họ tự làm từ A đến Z, chỉ cho doanh nghiệp Việt mấy đồng lẻ để núp bóng và được chống lưng. Còn bao nhiêu tiền lời của khách vào túi đầu nậu Trung Quốc. Điều đó không những vi phạm pháp luật Việt Nam, mà còn khiến người Việt mất công ăn việc làm. Nguy hiểm nhất là mọi tiếng xấu thì Việt Nam gánh chịu.

Người dân Đà Nẵng rất lo ngại là tình trạng người Trung Quốc làm du lịch “chui” còn kéo theo những phức tạp xã hội khác. Trong đó, nổi cộm là việc lợi dụng du lịch để xuyên tạc về kiến thức địa lý, lịch sử Việt Nam. Cụ thể, hướng dẫn viên Trung Quốc nhiều lần nói với khách du lịch rằng Đà Nẵng là đất đai của Trung Quốc từ xưa và biển Đà Nẵng trước đây có tên là China Beach. Bên cạnh đó, người Trung Quốc khi đến Việt Nam du lịch thường xuyên sử dụng các poster, ấn phẩm, bản đồ… có in “đường lưỡi bò”. Trên các ấn phẩm này, phần lãnh thổ Việt Nam không có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không dừng lại ở đó, du khách Trung Quốc còn coi thường văn hóa bản địa khi ăn mặc phản cảm vào chùa và ngang nhiên vi phạm pháp luật khi đốt tiền Việt trong quán bar, gây bức xúc trong dư luận.

Không kỳ thị hay phân biệt, nhưng tập tính du lịch bình dân Trung Quốc thì cả thế giới hôm nay không lạ. Khách Trung Quốc khả năng chi tiêu thấp, nhưng rất thiếu ý thức: hay trộm vặt và hành hung nhân viên, rửa chân trong bồn rửa mặt; đi vệ sinh không giật nước; khạc nhổ bừa bãi; không chịu xếp hàng. Tại tiệc buffet, các du khách này chen lấn lấy thức ăn rồi giành chỗ ngồi của nhau, cãi vã ầm ĩ, thức ăn thừa bày la liệt trên bàn. Khách Trung Quốc đi đến đâu đều rất ồn ào, chỉ cần vài người là nói vang cả vùng. Trong khi đó, khách châu Âu đi cả đoàn 50 người vẫn rất yên lặng.

Từ lâu, lượng khách đến từ Tây Âu, Bắc Mỹ được đánh giá là thị trường khách cao cấp, có mức chi tiêu cao nhất, sử dụng dịch vụ cao cấp. Việc đón khách từ thị trường này không chỉ mang tính bền vững mà còn góp phần hình thành các cơ sở dịch vụ chất lượng cao. Tuy nhiên, từ khi du khách Trung Quốc ồ ạt đổ bộ vào Việt Nam, với những thói xấu kể trên đã gây không ít phiền hà cho các du khách này, chính vì thế, các điểm có khách Trung Quốc đến đông thì khách châu Âu rất ngại đến. Hiện khách Trung Quốc và Nga đến Đà Nẵng, Nha Trang tiếp tục tăng, nhưng các thị trường truyền thống như Pháp, Mỹ, Nhật Bản đang giảm mạnh, có thị trường giảm trên 30%.

Một vấn đề nghiêm trọng khác đó là, Bắc Kinh không ngần ngại dùng du khách Trung Quốc làm công cụ gây sức ép trên các chính phủ dám làm phật ý họ. Hàn Quốc và Đài Loan đang là nạn nhân của chính sách này.

Lượng du khách Hoa Lục đến Đài Loan đã giảm mạnh với tỷ lệ 36% kể từ khi tổng thống Thái Anh Văn nhậm chức. Trung Quốc luôn tố cáo nữ tổng thống Đài Loan là muốn giành độc lập cho hải đảo mà Bắc Kinh cho là lãnh thổ Trung Quốc. Hiện có rất nhiều lo ngại rằng ngành công nghiệp du lịch Đài Loan sẽ không sống được nếu tình hình tiếp tục như thế này.

Đài Loan không phải là nạn nhân duy nhất của chính sách dùng du khách làm vũ khí ngoại giao từ Trung Quốc. Ngành du lịch Hàn Quốc đã trở thành đối tượng bị Bắc Kinh tấn công từ khi Seoul đồng ý cho Mỹ triển khai hệ thống lá chắn chống tên lửa THAAD.

Nếu một ngày nào đó, xung đột biển Đông tái diễn, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trở nên xấu đi. Không có gì đảm bảo rằng chính quyền Bắc Kinh không dùng khách du lịch như một thứ vũ khí chống lại Việt Nam như cách họ đang làm với Đài Loan và Hàn Quốc.

Từ những dữ kiện nói trên cho thấy, không phải ngẫu nhiên mà tư tưởng ghét du khách Trung Quốc tồn tại trong lòng người dân Việt. Qua đó cũng thấy rằng, việc chỉ chờ vào thị phần khách Trung Quốc để phát triển ngành du lịch là một canh bạc rủi ro, thiếu bền vững.

Ngành du lịch Việt Nam nói chung và ông bí thư Trương Quang Nghĩa cần chấn chỉnh lại cách làm. Cần phải dự báo và quy hoạch chiến lược phát triển du lịch tập trung vào các thị trường khách cao cấp để khai thác, xúc tiến thị trường. Chứ không nên chạy theo phong trào du lịch bình dân kiểu Trung Quốc, ham lợi trước mắt mà quên lợi ích lâu dài.

Nếu không chịu thay đổi ngay từ bây giờ, thì nguy cơ ngành du lịch Việt Nam sẽ bị các ông chủ Trung Quốc thôn tính, bị Trung Quốc hóa không còn xa vời. Đến lúc đó, bức tranh ngành du lịch Việt Nam sẽ chỉ là những hình ảnh lộn xộn, bát nháo với đầy rẫy thói hư tật xấu của người Trung Quốc. Bên cạnh đó, một khi đất nước tràn ngập người Trung Quốc, Việt Nam sẽ phải đối mặt thêm với hành loạt rủi ro về bất ổn trật tự xã hội, an ninh quốc phòng…

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”