Lão hóa dân số có thể gây tác hại đến phát triển kinh tế của Việt Nam

Việt Nam thuộc những nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Ảnh: Hà Nội Mới
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ngày 16/09/2022, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị thế giới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Ảnh hưởng của già hóa dân số đến phát triển kinh tế.” Đây là một vấn đề ngày càng gây quan ngại ở Việt Nam, bởi vì tốc độ lão hóa quá nhanh của dân số Việt Nam có thể gây tác hại đến nền kinh tế.

Việt Nam được xem là một trong các quốc gia có tốc độ lão hóa dân số nhanh nhất thế giới. Theo thống kê của văn phòng Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) tại Việt Nam, những người từ 60 tuổi trở lên chiếm 11,9% tổng dân số vào năm 2019 và đến năm 2050, tỷ lệ này sẽ tăng lên hơn 25%. Đến năm 2036, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già, chuyển từ xã hội “già hóa” sang xã hội “già.”

Theo chiều hướng đó, Tổng cục Thống kê Việt Nam dự báo, dân số Việt Nam từ 65 tuổi sẽ vượt 15% tổng dân số vào năm 2039. Đây sẽ là thời điểm chấm dứt thời kỳ “dân số vàng” ở Việt Nam.

Theo UNFPA, sự thay đổi này ở Việt Nam không chỉ nhờ giảm tỷ lệ tử vong và tăng tuổi thọ, mà phần lớn là do giảm mạnh tỷ lệ sinh. Tỷ lệ sinh sụt giảm trong những thập kỷ qua đã tác động rất lớn tới cơ cấu dân số của Việt Nam, làm đẩy nhanh tốc độ già hóa dân số.

Ngoài việc đặt ra các vấn đề mặt y tế, xã hội, có nguy cơ là tình trạng lão hóa dân số gây tác hại cho nền kinh tế Việt Nam, hay đúng hơn là tác hại cho các lợi thế của Việt Nam về lao động.

Trả lời RFI Việt ngữ, bà Naomi Kitahara, Trưởng đại diện Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) ở Việt Nam, ghi nhận:

“Hiện giờ Việt Nam vẫn có tỷ lệ dân số trẻ cao nhất trong lịch sử của nước này, số người trẻ tuổi vẫn còn rất nhiều. Nói chung là ‘cửa sổ dân số’ vẫn còn mở, theo dự đoán sẽ còn mở cho đến năm 2039.

Số người trong độ tuổi lao động vẫn sẽ còn tăng cho đến năm 2034, nhưng theo dự đoán thì kể từ năm 2035 sẽ bắt đầu giảm. Lúc đó sẽ chỉ còn chưa tới 2 người trong độ tuổi lao động để ‘nuôi’ một người lớn tuổi, phải sống dựa vào người khác, so với hiện nay là vẫn còn 4 người trong độ tuổi lao động nuôi một người già. Như vậy là tỷ lệ người sống phụ thuộc sẽ tăng mãi. Và điều này sẽ có ảnh hưởng đến lực lượng lao động.”

Vào cuối tháng 8 vừa qua, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) đã công bố một nghiên cứu cho thấy, do ảnh hưởng của già hóa dân số và chi phí lao động tăng, Việt Nam sẽ sớm mất lợi thế về lao động giá rẻ. Nghiên cứu mang tên “Thực trạng phát triển nguồn nhân lực công nghiệp Việt Nam” do JICA thực hiện từ tháng 9/2021 đến tháng 5/2022, thông qua phỏng vấn và khảo sát diện rộng hơn 1.000 tổ chức khu vực công và tư.

Nghiên cứu cho rằng, cho dù bị ảnh hưởng của đại dịch, hay cho dù có những thay đổi về cơ cấu kinh tế, nguồn cung lao động của Việt Nam sẽ vẫn ổn định trong ngắn hạn và trung hạn. Năm 2020, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở Việt Nam vẫn còn là 74,4%, cao đáng kể so với tỷ lệ 60,5% của thế giới và tỷ lệ 67,2% của vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, về lâu dài, nguồn dự trữ lao động sẽ ngày càng giảm đi. Vào năm 2015, Việt Nam còn ở trong “thời kỳ dân số vàng,” với 70% dân số ở độ tuổi từ 15 đến 64, tức là trong độ tuổi lao động hợp pháp. Nhưng dân số Việt Nam sẽ già đi “cực kỳ nhanh” vào năm 2050, chỉ còn 60% dân số trong độ tuổi lao động và một phần dân số lao động đó sẽ trên 60 tuổi.

Theo JICA, xu hướng già hóa dân số nhanh chóng như vậy sẽ khiến tăng trưởng kinh tế chậm lại đáng kể và làm tăng khả năng thiếu lao động. Lực lượng lao động càng giảm đi thì hậu quả tất yếu là tiền lương lao động sẽ tăng lên. Cho nên, nghiên cứu của JICA kết luận: “Việt Nam sẽ mất lợi thế về lao động giá rẻ trong các ngành đòi hỏi kỹ năng thấp và sử dụng nhiều lao động.”

Theo JICA, một trong những giải pháp cho tình trạng này là tăng năng suất lao động. Nhưng quá trình cải thiện năng suất lao động ở Việt Nam không dễ dàng. Thứ nhất, chuyển dịch lao động kém năng suất từ nông nghiệp sang công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đã là yếu tố chính góp phần vào tăng trưởng năng suất ở Việt Nam trong 20 năm qua. Tuy nhiên, đóng góp vào tăng trưởng năng suất từ quá trình chuyển đổi này đã gần như đã cạn kiệt.

Thứ hai là quy mô doanh nghiệp: Phần lớn các doanh nghiệp ở Việt Nam là doanh nghiệp hộ gia đình có quy mô nhỏ và rất nhỏ, thiếu phương tiện kinh tế đáng kể để đầu tư và cải tiến công nghệ, thiết bị, tổ chức hoặc sản xuất.

Thứ ba là kỹ năng của người lao động. Trình độ học vấn thấp là một trong những yếu tố khiến Việt Nam gần đây được xác định là một trong những nước có năng suất lao động thấp nhất khu vực. Cho nên, nghiên cứu của JICA khuyến nghị: “Việt Nam cần cải thiện công tác giáo dục và đào tạo cho lực lượng lao động vì mục tiêu tăng năng suất lao động, để từ đó tăng khả năng của đất nước cạnh tranh, hội nhập toàn cầu.

Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam, bà Naomi Kitahara, thì cho rằng một trong những giải pháp để kềm chế tốc độ lão hóa dân số là khuyến khích sinh đẻ:

“Thứ nhất, tỷ lệ sinh con ở hiện là 2 con/phụ nữ. Tỷ lệ này là lý tưởng vào thời gian mà Việt Nam còn là một quốc gia nghèo, còn là một quốc gia có thu nhập thấp. Nhưng trong một thập niên, Việt Nam đã đạt rất nhiều thành công về phát triển kinh tế xã hội và nay đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình. Cho nên, chúng tôi khuyên chính phủ Việt Nam nên điều chỉnh chính sách dân số theo hướng để cho các gia đình được tự do, đúng theo các nguyên tắc của Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển, tức là các cặp vợ chồng được quyết định một cách tự do và có trách nhiệm về số con, thời điểm sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh. Chúng tôi khuyến cáo Việt Nam tạo điều kiện cho hướng điều chỉnh đó để đáp ứng những yêu cầu về lực lượng lao động.  

Nhưng một điều cũng rất quan trọng đó là Việt Nam phải có những đầu tư đúng đắn vào giới trẻ, nhất là về mặt y tế và giáo dục, bao gồm cả sức khỏe sinh lý và giáo dục sinh sản, cũng như giáo dục giới tính và tình dục toàn diện và giáo dục kỹ năng sống.

Đồng thời, đối với người lớn tuổi, chúng ta phải xem họ như là một yếu tố của phát triển, chứ không phải là một gánh nặng của xã hội, vì ngày nay người già đa số vẫn còn khỏe mạnh, vẫn còn khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc. Theo một điều tra năm 2019, 42,8% số người già vẫn còn có khả năng làm việc để có thu nhập ở Việt Nam, nhất là những người già nhưng chưa lớn tuổi lắm. Cho nên, phải tính đến nguồn lực này trong đội ngũ lao động ở Việt Nam.”

Theo bà Naomi Kitahara, như vậy Việt Nam phải tạo môi trường thuận lợi để những người lớn tuổi còn đủ sức lao động có thể tiếp tục làm việc:

“Điều rất quan trọng là tạo một môi trường thuận lợi cho người lớn tuổi có thể tiếp tục làm việc và tiếp thu những kỹ năng mới qua một quá trình học suốt đời. Chúng ta không chỉ tạo công ăn việc làm cho người già còn phải tạo một môi trường thích hợp để người lớn tuổi có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội.

Đa số những người lớn tuổi muốn tiếp tục làm việc nhưng họ lại gặp những vấn đề về sức khỏe, cho nên phải có những giải pháp thích hợp để người già ở Việt Nam không còn phải ‘chiến đấu’ với những vấn đề về sức khỏe đó khi trở thành người già. Những người trẻ tuổi ở Việt Nam phải được chuẩn bị tốt cho cuộc sống tuổi già. Cách tiếp cận già hóa dân số đó chúng tôi gọi là cách tiếp cận theo vòng đời (life-cycle.)

Chính phủ cũng phải tiếp tục phát triển hệ thống an sinh xã hội cho người già để giảm thiểu tối đa các tác động của tuổi già. Hệ thống an sinh xã hội này phải tạo ra một ‘tấm đệm’ để người già có thể chống đỡ với mọi cú sốc. Đó là một yếu tố rất quan trọng góp phần giúp Việt Nam đạt những mục tiêu phát triển cho năm 2030.”

Thanh Phương

Nguồn: RFI

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”