Nông dân Việt Nam sẽ trở thành “đại gia” nhờ xăng E10?

Ảnh minh họa: Nông dân trồng khoai mì
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Thùy Linh

Con số 10.000 tỷ đồng nghe có vẻ như một cuộc đổi đời cho nông dân Việt Nam, nhưng kỳ vọng và thực tế cách nhau rất xa

Sáng 17/6/2026, tại Diễn đàn “Phát triển nhiên liệu sinh học 2026: Từ chủ trương của đảng đến hành động quốc gia,” đại diện Tổng Công ty Lọc hoá dầu Việt Nam (BSR) nhận định: Khi xăng E10 được sử dụng trên toàn quốc, nhu cầu Ethanol dùng để phối trộn dự báo sẽ đạt khoảng 1 triệu mét khối mỗi năm và như vậy sẽ có hơn 10.000 tỷ đồng trực tiếp chảy vào túi hàng triệu nông dân trồng khoai mì và mía.

10.000 tỷ đồng góp phần vẽ ra một tương lai đầy lạc quan về sinh kế bền vững của người nông dân. Về lý thuyết, bài toán này hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, nhìn vào cấu trúc chuỗi cung ứng và thực tế thị trường Việt Nam, liệu dòng tiền khổng lồ ấy có thực sự đến tay người nông dân, hay sẽ bị san sớt lại ở đâu đó?

Bao nhiêu phần trăm của 10.000 tỷ sẽ đến tay người nông dân?

Cụm từ “trực tiếp chảy vào túi nông dân” thực tế lại phải đi qua một loạt trung gian trong nền kinh tế thị trường. Đa phần nông sản hiện nay vẫn phụ thuộc vào thương lái và các chợ đầu mối. Để đi từ ruộng đến được cửa nhà máy Ethanol, khoai mì phải đi qua nhiều cấp trung gian, và mỗi tầng nấc lại giữ lại một phần lợi nhuận.

Khi giá nguyên liệu tăng, các tổng kho và thương lái lớn với lợi thế vốn, gom được nhiều hàng sẽ là bên hưởng lợi nhiều nhất. Ngược lại, khi thị trường xăng dầu biến động hoặc giá cồn sụt giảm, rủi ro ép giá sẽ ngay lập tức được đẩy về phía người trồng.

Mặt khác, Việt Nam không độc quyền sản xuất Ethanol. Các nước như Mỹ hay Brazil lại sở hữu công nghệ vượt trội và nguồn nguyên liệu (bắp, mía) giá rẻ quy mô lớn. Khi nhu cầu trong nước tăng vọt, các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu buộc phải tối ưu hóa chi phí. Nếu giá cồn nhập khẩu rẻ hơn giá sản xuất nội địa, “chi phí nguyên liệu” hiển nhiên sẽ chảy ra nước ngoài, làm giàu cho nông dân ngoại quốc chứ không phải nông dân Việt Nam.

Bào mòn đất canh tác

Cây khoai mì có vai trò lớn trong xóa đói giảm nghèo tại các vùng đất cằn cỗi. Tuy nhiên, đây cũng là loại cây khiến cho dinh dưỡng của đất bị cạn kiệt rất nhanh. Để duy trì năng suất, người nông dân không thể canh tác liên tục mà phải tốn chi phí cày ải, phơi đất và đầu tư lượng lớn phân bón để phục hồi sức cho đất. Nếu thâm canh liên tiếp quá 4 vụ, đất sẽ bạc màu đến mức các loại cây trồng khác không thể phát triển bình thường. Liệu chi phí cải tạo và rủi ro thoái hóa đất này đã được tính vào con số 10.000 tỷ đồng hay chưa?

Ông Thêm, một nông dân có thâm niên trồng sắn, chia sẻ thẳng thắn: “Có giàu hay không thì chưa biết nhưng trước mắt để chạy máy, kiếm E5 đổ là mệt mỏi rồi đây nè. Đó là chưa kể đến trồng khoai mì ảnh hưởng đến đất đai nữa, nông dân phải tốn thêm một khoản chi phí cho phân bón, vôi cải tạo hoặc chấp nhận bỏ trống đất để phục hồi.”

10.000 tỷ đồng là một con số đầy tiềm năng, nhưng từ số liệu trên giấy đến túi tiền của người nông dân là một hành trình dài đầy chướng ngại. Nếu không có cơ chế bảo hộ giá và quy hoạch vùng nguyên liệu bền vững, giấc mơ “đại gia” nhờ xăng E10 của người nông dân vẫn còn nằm ở thì tương lai.

Nguồn: Việt Nam Thời Báo

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” từng được ra mắt tại trụ sở Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam. Ảnh: NXB Hội Nhà văn Việt Nam

Cần “lật sử” (!) và “xuyên tạc lịch sử,” “xúc phạm lãnh tụ” ư?

Hiểu quá khứ để rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước và của mỗi người chúng ta. Chính vì thế việc viết lại các chuyện kể lịch sử và việc đánh giá lại các nhân vật lịch sử là chuyện thường xuyên phải làm của các nhà sử học, cũng như là quyền của mỗi người quan tâm đến lịch sử, và không thể vin vào “sự xuyên tạc lịch sử,” hay “sự xúc phạm lãnh tụ” để “đấu tố” hay  “lên án” họ nhất là để truy tố họ.

Khi “bốn bước chuyển chiến lược” gặp cơn sóng thần đấu tố trên toàn quốc

Điều đang diễn ra tại Việt Nam là một dạng “Cách mạng Văn hóa kỹ thuật số,” Hồng vệ binh không còn đeo băng đỏ mà ẩn sau tài khoản mạng; loa phường không chỉ treo trên cột điện mà nằm trong điện thoại của mỗi người; bản án dư luận được ban hành trước khi tranh luận học thuật kịp bắt đầu. Khi cả xã hội được huy động để săn lùng một câu chữ, một cuốn sách hoặc một cách gọi nhân vật lịch sử, mục tiêu thực sự không còn là bảo vệ sự thật. Đó là việc buộc mọi người phải nhìn quá khứ bằng một đôi mắt duy nhất.

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Bộ máy tuyên truyền CSVN đã thất bại ra sao trong vụ xử lý “Chuyện với Thanh”?

Khi một hệ thống dùng quyền lực để thay thế đối thoại, dùng khẩu hiệu để thay thế sự minh bạch, dùng văn kiện để thay thế trách nhiệm, thì đó không phải là biểu hiện của sức mạnh mà là dấu hiệu của sự lúng túng. Câu chuyện lớn hơn sau vụ việc này không phải là một cuốn sách mà là câu hỏi về khả năng thích ứng của một hệ thống chính trị trước một xã hội đang thay đổi.

Thánh Thiên Nữ Tướng – Những người Mẹ trầm mình trên sông

Những dòng sông lịch sử như sông Hát, sông Thao, sông Nhật Đức, sông Bạch Hạc… không chỉ chứng kiến những giờ phút cuối cùng của triều đại Trưng Nữ Vương, mà còn là nơi lưu dấu khí phách lẫm liệt của 36 vị nữ tướng. Tiêu biểu là nữ tướng Thánh Thiên, người đến từ vùng ven biển Đông Bắc.