Nguyễn Công Bằng
Phong cách “chiến lang” của Trung Quốc
Tờ “Thời báo Hoàn cầu” – cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Trung Quốc – mới đây đã đăng tải một bài xã luận tuyên truyền nhắm vào Ấn Độ với tiêu đề “‘Câu chuyện chiến thắng’ của Ấn Độ sẽ thất bại tại biên giới Trung-Ấn.” Một đặc điểm đáng chú ý trong các bài bình luận và phát ngôn của các nhà ngoại giao Trung Quốc là họ thường bắt đầu bằng ngôn từ lịch thiệp, nhưng ngay sau đó lại đột ngột chuyển sang giọng điệu đe dọa và đưa ra các cảnh báo.
Họ hành xử như một “kẻ bề trên,” đưa ra những đề xuất, áp đặt các điều kiện và thể hiện thái độ “kẻ cả” đối với các quốc gia khác. Cách hành xử này bắt nguồn từ cái gọi là “hội chứng Trung Quốc là trung tâm” – một tư duy hình thành từ thế giới quan lấy Trung Quốc làm trung tâm trong lịch sử, vốn mang nặng tâm thế “vua – tôi” và đòi hỏi người khác phải phục tùng.
Kiểu ứng xử này cũng được phản ánh qua cái gọi là “ngoại giao chiến lang,” theo đó các nhà ngoại giao Trung Quốc chọn giọng điệu đối đầu gay gắt hơn mỗi khi lợi ích hoặc lập trường của đất nước họ bị thách thức.
Tương tự, các nhà ngoại giao Trung Quốc có thể tỏ ra bình tĩnh, điềm đạm lúc ban đầu, nhưng rồi bất ngờ chuyển sang sử dụng ngôn từ quyết liệt nhằm khẳng định vị thế áp đảo và đưa ra những tuyên bố đanh thép.
Ấn Độ gần đây đã thấy được dã tâm của Trung Quốc – nước lớn ở Đông Á, đã “lên mặt” dạy cho Ấn Độ một bài học, là quốc gia này chỉ có thể “làm chư hầu” cho Trung Quốc mà thôi, bài học này thật hách dịch và khệnh khạng.
“Cuộc chiến bản đồ” của Bắc Kinh
Gần đây, New Delhi đã đẩy mạnh chính sách “lập bản đồ đối kháng” thông qua việc chính thức đặt tên chuẩn cho các địa điểm quan trọng dọc biên giới Ấn-Trung. Tháng 10/2026, Bộ Nội vụ Ấn Độ ra thông báo về việc chuẩn hóa tên gọi của 28 địa điểm chiến lược tại Ladakh, cụ thể là các “điểm nóng” dọc Đường Kiểm soát Thực tế (LAC) như Gogra và Hot Springs cùng nhiều đỉnh núi, đèo và sông băng khác.
Trước đó, tháng 8/2026, Ấn Độ cũng đã xác định tên gọi cho 27 địa điểm trọng yếu tại Arunachal Pradesh, bao gồm cả những khu vực từng là “điểm nóng” lịch sử như Longju và Thag La. Bài viết trên tờ “Thời báo Hoàn cầu” cho rằng bằng cách đặt tên như vậy, Ấn Độ đang “tự huyễn hoặc bản thân rằng các yêu sách biên giới của họ đã được giải quyết,” đồng thời chỉ trích cách tiếp cận của Ấn Độ.
Tuy nhiên, trên thực tế, chính Trung Quốc cũng đang thực hiện những hành động tương tự thông qua chiến lược “chiến tranh pháp lý” của riêng mình. Bắc Kinh đã nhiều lần sử dụng bản đồ như một công cụ địa chính trị để khẳng định các yêu sách của mình, ví dụ như thông qua việc liên tục công bố các tên gọi chuẩn hóa bằng tiếng Quan Thoại cho những địa điểm tại Arunachal Pradesh – nơi mà họ gọi là Zangnan (Nam Tây Tạng). Đây là cách hành xử đặc trưng của Trung Quốc.
Trong quá khứ, trước khi đưa quân vào Tây Tạng năm 1950, Trung Quốc từng sử dụng bản đồ và các biện pháp hành chính để khẳng định quyền kiểm soát đối với vùng đất này. Ngày nay, Trung Quốc vẫn tiếp tục sử dụng bản đồ để thể hiện và củng cố các yêu sách chủ quyền đối với những vùng lãnh thổ mà nước này tuyên bố thuộc về mình.
Ai là kẻ thất hứa?
Trung Quốc cáo buộc “Ấn Độ đang chơi trò chính trị,” nhưng thực tế, chính Trung Quốc mới là bên thường xuyên thất hứa trong các thỏa thuận với Ấn Độ, bao gồm các thỏa thuận đạt được năm 1993 (về duy trì hòa bình và ổn định), năm 1996 (về các biện pháp xây dựng lòng tin), và giai đoạn 2003/2005 (về các nguyên tắc và phương thức chính trị).
Nếu hòa bình và ổn định được duy trì dọc biên giới Ấn-Trung hay LAC trong suốt một thời gian dài, đó là nhờ Ấn Độ đã đơn phương tôn trọng và tuân thủ nghiêm túc các thỏa thuận này. Chẳng hạn, trước năm 1962, Trung Quốc từng ký Hiệp định Panchsheel (5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình), trong đó Bắc Kinh ra sức tuyên truyền về lợi ích chung, cùng có lợi và quan hệ hòa bình thông qua khẩu hiệu “Hindi-Chini Bhai-Bhai” (Ấn-Trung là anh em), nhưng rồi sau đó lại bất ngờ tấn công Ấn Độ.
Tương tự, năm 2020, khi Ấn Độ đang phải vật lộn với một trong những cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất do đại dịch COVID-19, Trung Quốc đã lợi dụng tình thế đó để tìm cách chiếm thêm lãnh thổ Ấn Độ, đồng thời dùng thủ đoạn để tấn công binh sĩ Ấn Độ tại Galwan, khiến 20 binh sĩ thiệt mạng.
Bên cạnh đó, Trung Quốc còn cho rằng vào năm 2019, “Ấn Độ đã đơn phương sửa đổi luật pháp trong nước, bãi bỏ các điều khoản Hiến pháp liên quan và tuyên bố thành lập cái gọi là ‘Lãnh thổ Liên bang Ladakh,’ qua đó cố tình đưa phần lãnh thổ của Trung Quốc ở khu vực phía Tây biên giới 2 nước vào phạm vi quản lý hành chính của mình.” Tuy nhiên, việc Ấn Độ bãi bỏ Điều 370 trong Hiến pháp và tái tổ chức khu vực Jammu, Kashmir là một quyết định nội bộ thuộc chủ quyền của Ấn Độ – vấn đề mà không một quốc gia nước ngoài nào có quyền can thiệp hay lên tiếng. Ấn Độ có các yêu sách lịch sử đối với khu vực này, và nơi đây đã là một phần không thể tách rời của Ấn Độ từ nhiều thế kỷ qua.
Trung Quốc không có quyền áp đặt đối với Ấn Độ trong các vấn đề như thay đổi tên gọi, tái tổ chức lãnh thổ hay thực hiện các điều chỉnh hành chính. Trên thực tế, Trung Quốc đã chiếm đóng Aksai Chin từ những năm 1950 và củng cố quyền kiểm soát trong cuộc chiến năm 1962. Nước này cũng chiếm đóng Thung lũng Shaksgam và tiếp tục nắm giữ khu vực này một cách bất hợp pháp.
Bắc Kinh tuyên bố rằng biên giới Trung-Ấn từ lâu đã thuộc về Trung Quốc, đồng thời khẳng định “Trung Quốc có chủ quyền đối với các khu vực liên quan, bao gồm cả vùng Aksai Chin thuộc Khu tự trị Tân Cương-Duy Ngô Nhĩ ở Tây Bắc Trung Quốc, và có đầy đủ cơ sở lịch sử cũng như pháp lý cho các tuyên bố của mình.” Câu hỏi đặt ra là làm sao Trung Quốc có thể khẳng định quyền sở hữu dựa trên lịch sử khi họ hoàn toàn không có cơ sở lịch sử nào đối với những vùng lãnh thổ này? Đây là sự xuyên tạc hoàn toàn lịch sử, Trung Quốc rất giỏi trong các việc “vận dụng lịch sử” kiểu như vậy.
Trung Quốc chỉ bắt đầu hiện diện tại Aksai Chin từ những năm 1950 bằng cách bí mật xây dựng tuyến đường cao tốc Tân Cương-Tây Tạng (G219) xuyên qua lãnh thổ Ấn Độ, thời điểm New Delhi đang tập trung vào chính sách ngoại giao hòa bình, rồi sau đó dùng vũ lực chiếm đóng khu vực này trong cuộc chiến năm 1962.
Xét cho cùng, bài viết trên tờ “Thời báo Hoàn cầu” là một ví dụ điển hình cho lối nói nước đôi và sự đạo đức giả mang tính chiến lược của Trung Quốc. Họ cố gắng thuyết giảng cho Ấn Độ về sự kiềm chế và tôn trọng các thỏa thuận, trong khi chính Trung Quốc lại có một lịch sử lâu dài và được ghi chép rõ ràng về việc vi phạm các hiệp ước song phương, thực hiện các hành vi chiếm đất ngầm, và sử dụng bản đồ như một thứ vũ khí hung hăng nhắm vào các nước láng giềng.
Không chỉ Ấn Độ, tất cả quốc gia nào có tranh chấp với Trung Quốc về biên giới hay lãnh thổ, đều gặp câu chuyện tương tự. Ví dụ như Philippines, có những tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông. Đại sứ Trung Quốc tại Philippines Tỉnh Tuyền đã lên tiếng cho rằng: “Nếu muốn sử dụng vũ lực, chúng tôi có thể chiến thắng dễ dàng. Nhưng không, chúng tôi sẽ không chọn vũ lực, vì chúng tôi yêu hòa bình.”
Câu chuyện Philippines và Trung Quốc tố cáo lẫn nhau lên tới Liên Hợp Quốc xảy ra nhiều lần. Việt Nam thì sao?
Việt Nam có vậy không?
Chúng ta còn nhớ năm 2011, đã xảy ra sự kiện tàu Trung Quốc cắt cáp của tàu Việt Nam. “Việt Nam kiên quyết phản đối hành động của phía Trung Quốc phá hoại, cản trở các hoạt động thăm dò khảo sát bình thường của Việt nam trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, gây thiệt hại lớn cho tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam. Hành động này đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của mình, vi phạm Công ước Luật biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc, trái với tinh thần và lời văn của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002 cũng như nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Việt Nam yêu cầu phía Trung Quốc chấm dứt ngay, không để tái diễn những hành động vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời bồi thường thiệt hại cho phía Việt Nam.”
Đây là lời của Người phát ngôn Bộ ngọai giao Việt Nam đã phát biểu về sự kiện này của Trung Quốc.
Rồi tiếp theo là năm 2014, Trung Quốc đã mạnh mẽ “tấn công” Việt Nam bằng Giàn khoan khổng lồ của mình.
“Lúc 5h22’ ngày 01/5/2014, Cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện giàn khoan nước sâu Hai Yang Shi You 981 (mà Việt Nam vẫn thường gọi là HD 981) và 03 tàu dịch vụ dầu khí của phía Trung Quốc di chuyển từ Tây Bắc đảo Tri Tôn (thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) xuống phía Nam. Đến 16 giờ ngày 02/5/2014, giàn khoan HD 981 được thả trôi tại tọa độ 15o29’58” vĩ Bắc – 111o12’06” kinh Đông, phía Nam đảo Tri Tôn, sâu vào trong thềm lục địa của Việt Nam 80 hải lý, cách đảo Lý Sơn 119 hải lý, cách bờ biển Việt Nam 130 hải lý. Trung Quốc hạ đặt giàn khoan này để tiến hành khoan thăm dò thềm lục địa của Việt Nam và huy động nhiều tàu bảo vệ đi cùng. Hiện nay, số lượng tàu của Trung Quốc bảo vệ giàn khoan đã tăng lên hơn 60 chiếc, trong đó cả tàu quân sự; các tàu này đã cố tình đâm va vào các tàu thực thi pháp luật – tàu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư – của Việt Nam đang hoạt động chấp pháp tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, gây thiệt hại về người và tài sản.”
Không phải Trung Quốc không trưng ra các tài liệu lịch sử và pháp lý để tấn công lại phía Việt Nam. Nhưng rõ ràng, Toà Trọng tài được thành lập bởi Vụ Philipines kiện Trung Quốc năm 2013, cho đến năm 2016 đã ra Phán quyết lịch sử, cho thấy biện luận của Trung Quốc vô nghĩa như thế nào.
Nói chung, cho đến bây giờ, các quốc gia tranh chấp với Trung Quốc đều biết rõ rằng Trung Quốc hoàn toàn không có gì về luật pháp và lịch sử trong các tranh chấp ở Biển Đông. Nhưng với sức mạnh của mình, Trung Quốc vẫn đưa ra bản đồ 10 đoạn, tức là gồm 9 đoạn như ban đầu, nhưng thêm đảo Đài Loan thành 10 đoạn. Thế nhưng, liệu Trung Quốc có “làm ăn” được gì hay không? Có lẽ lãnh đạo Trung Quốc hiểu rõ nhất, vì sao Trung Quốc sẽ thất bại thảm hại như vậy. Không phải lúc nào sức mạnh kèm theo luận điểm đe doạ là thành công.
Nguyễn Công Bằng




