Tại sao CSVN lọt vào được Hội đồng Nhân quyền LHQ?

Một phiên họp của Hội đồng Nhân Quyền tại trụ sở của Liên Hiệp Quốc ở Geneva, Thụy Sĩ. Nguyên tắc bầu cử và ứng cử vào hội đồng này đã bị các nước đàn áp nhân quyền tồi tệ như Việt Nam lợi dụng kẽ hở để chui vào. Ảnh: Fabrice Coffrini/ AFP/ Getty Images
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Khi cáo giữ chuồng gà [*]

Năm 2025 được đánh dấu là năm cuối của nhiệm kỳ 3 năm, từ 2023 – 2025 của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc mà chế độ CSVN đang là thành viên của hội đồng này.

Rất nhiều người đã phải đặt câu hỏi về nghịch lý nổi bật trong chính trị quốc tế hiện đại: Làm thế nào một chế độ bị cáo buộc vi phạm nhân quyền hàng đầu, có hệ thống như chế độ Cộng Sản Việt Nam, lại có thể được bầu vào làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (UNHCR) không chỉ một, mà đến hai nhiệm kỳ (2006–2009 và 2023–2025)?

Ít nhất, đã có 3 lý do giúp lý giải cho chúng ta về nghịch lý đang tồn tại này, bao gồm: Cơ chế bầu cử tại Liên Hợp Quốc, quy luật thực dụng trong quan hệ quốc tế, và chiến lược vận động của chế độ Cộng Sản Việt Nam.

1. Cơ chế bầu cử của Hội đồng Nhân quyền không ngăn cản các quốc gia vi phạm nhân quyền

Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (tên chính thức: UN Human Rights Council – viết tắt: UNHRC) bao gồm 47 quốc gia thành viên, được bầu theo khu vực địa lý, với nhiệm kỳ 3 năm.

Điều đáng lưu ý là mọi quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc đều có quyền ứng cử, bất kể hồ sơ nhân quyền của quốc gia họ có tốt đẹp hay tồi tệ như thế nào. Khi bầu cử diễn ra tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, các nước bỏ phiếu theo nguyên tắc phiếu kín, và thường bị chi phối bởi liên minh chính trị – kinh tế – lợi ích nhóm, chứ không phải chỉ dựa trên tiêu chí đạo đức hay thành tích nhân quyền thuần túy.

Việt Nam từng được bầu vào Hội đồng Nhân quyền năm 2006 và tiếp tục trúng cử vào năm 2022 với 145/189 phiếu cho nhiệm kỳ 2023–2025. Việc trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền không mang ý nghĩa là sự công nhận hồ sơ nhân quyền của Việt Nam, mà là kết quả của sự thỏa hiệp, đổi chác và cân bằng địa chính trị giữa các nhóm nước (như ASEAN, G77, hoặc nhóm các nước không liên kết).

2. Thế giới không vận hành dựa trên đạo lý, mà dựa trên các toan tính thực dụng

Quan hệ quốc tế, xét cho cùng, là một trò chơi cân bằng quyền lực (realpolitik). Các cường quốc, bao gồm cả những quốc gia dân chủ hàng đầu vẫn thường sẵn sàng nhắm mắt làm ngơ trước tình trạng vi phạm nhân quyền của một quốc gia, nếu điều đó phục vụ lợi ích chiến lược, kinh tế hoặc quân sự dài hạn.

Việt Nam, dù đang tồn tại chế độ độc tài, nhưng lại có vị trí chiến lược đặc biệt – nằm giữa khu vực Đông Nam Á, tiếp giáp Biển Đông, vô tình có khả năng làm đối trọng quan trọng trong sách lược bao vây Trung Cộng của Hoa Kỳ và đồng minh trước sự trỗi dậy đầy đe dọa đến an ninh khu vực và thế giới của Trung Cộng.

Thế nên, nhiều quốc gia phương Tây, trong đó có Hoa Kỳ, ưu tiên xây dựng mối quan hệ đối tác an ninh và kinh tế với Việt Nam, hơn là đối đầu công khai về nhân quyền. Chưa kể rằng, dưới thời Tổng thống Donald Trump, ông vốn coi trọng những lợi ích kinh tế cụ thể hơn là những giá trị nhân quyền của Việt Nam.

Vì vậy, việc chính phủ các quốc gia không phản đối Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền không phải là vì họ ngây thơ, mà là vì họ đặt quyền lợi địa chiến lược lên trên các tuyên ngôn về giá trị đạo đức hay nhân quyền.

3. Chiến lược ngoại giao của CSVN: “mềm hóa hình ảnh, che đậy thực tế”

Bên cạnh toan tính thực dụng của quốc tế, Việt Nam đã đầu tư mạnh vào “ngoại giao mềm” và xây dựng hình ảnh một quốc gia “đang cải cách”, biết lắng nghe, “ổn định chính trị”, và đang hướng tới “phát triển bền vững”… để làm dịu đi các xung động xung quanh hồ sơ nhân quyền tồi tệ của mình.

Một số chiến lược đáng chú ý của Việt Nam:

Tham gia tích cực các tổ chức quốc tế, ký kết các công ước nhân quyền như ICCPR (Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị), CEDAW (Công ước về xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ), hoặc UNCAT (Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người)… và thường xuyên tham gia vào cuộc “đối thoại nhân quyền” với Hoa Kỳ và EU.

Duy trì hình ảnh ổn định chính trị, tăng trưởng kinh tế cao, và kết hợp sử dụng hệ thống truyền thông vào các chiến dịch quảng bá một bức tranh nhân quyền “tốt dần lên”, đặc biệt là các chủ đề như bình đẳng giới, xóa đói giảm nghèo, chống biến đổi khí hậu…

Tận dụng các kênh bỏ phiếu gián tiếp, như sự ủng hộ của các nước châu Phi, Nam Á và Mỹ Latinh – nơi Việt Nam có quan hệ truyền thống từ thời Chiến tranh Lạnh – để giành đủ phiếu bầu mà không cần đối mặt với chất vấn nghiêm khắc từ phương Tây.

Vấn đề không nằm ở Việt Nam, mà do cơ chế bầu cử bất toàn từ Liên Hiệp Quốc

Cơ chế bầu cử bất toàn đưa đến một nghịch lý rằng, ngay cả những quốc gia vi phạm nhân quyền hàng đầu trên thế giới cũng có thể ngồi vào ghế giám sát nhân quyền thế giới, như Trung Cộng, Cuba, Nga (trước khi bị loại năm 2022), Venezuela, Saudi Arabia – cũng đều từng trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền. Cho thấy, Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền không phải là trường hợp cá biệt.

Vào dịp bầu cử vào Hội đồng Nhân quyền năm 2022, Châu Á được bầu 4 ghế thì chỉ có 4 ứng viên ứng cử, nên mặc nhiên cả 4 ứng viên đều trúng cử, trong đó có Việt Nam.

Nhiều học giả phương Tây chỉ trích, cho rằng cơ chế bầu cử thành viên chọn theo khu vực địa lý của Liên Hiệp Quốc cho phép những nước không tôn trọng nhân quyền vẫn được đắc cử, đặc biệt khi không có đủ ứng cử viên cạnh tranh trong cùng nhóm khu vực (chẳng hạn như châu Á – Thái Bình Dương).

Việc Việt Nam – một quốc gia bị đánh giá là vi phạm nhân quyền nghiêm trọng – hai lần được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (nhiệm kỳ 2014–2016 và 2023–2025) đã gây ra những phản ứng đáng chú ý từ các tổ chức quốc tế, giới quan sát độc lập và một số chính phủ phương Tây.

Tuy nhiên, phản ứng chính thức từ các chính phủ phương Tây thường ở mức độ nhẹ nhàng, mang tính ngoại giao, trong khi các tổ chức nhân quyền lại lên tiếng mạnh mẽ và trực diện hơn. Dưới đây là tóm lược những phản ứng tiêu biểu:

Phản ứng từ quốc tế:

Tổ chức Human Rights Watch từng lên tiếng phản đối điều này, và gọi Hội đồng Nhân quyền là “một sân khấu chính trị nơi kẻ vi phạm lại đóng vai thẩm phán”.

Cũng Human Rights Watch (HRW) năm 2022 ra tuyên bố: “Việt Nam không xứng đáng với vị trí này. Họ cấm báo chí tự do, bắt giam hàng chục nhà hoạt động ôn hòa, và không dung thứ bất đồng chính kiến. Việc họ có ghế trong Hội đồng Nhân quyền là một đòn giáng vào uy tín của Liên Hiệp Quốc.”

Các tổ chức như Human Rights Watch (HRW), Amnesty International, và Freedom House đã lên án mạnh mẽ việc Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền, coi đây là một sự “mỉa mai” và “phản cảm” đối với sứ mệnh của cơ quan này.

Freedom House xếp Việt Nam vào nhóm “Không có tự do” và cho biết tình trạng đàn áp quyền tự do biểu đạt, tự do tôn giáo và hội họp ngày càng nghiêm trọng.

Hàng chục người dân tại Việt Nam bị chế độ Hà Nội bỏ tù mỗi năm dù người ta chỉ dùng ngòi bút hoặc phát biểu những điều trái với các trò tuyên truyền bịp bợm của chế độ. Ảnh: HRW
Hàng chục người dân tại Việt Nam bị chế độ Hà Nội bỏ tù mỗi năm dù người ta chỉ dùng ngòi bút hoặc phát biểu những điều trái với các trò tuyên truyền bịp bợm của chế độ. Ảnh: HRW

Amnesty International chỉ trích việc Hà Nội lợi dụng vị trí trong Hội đồng để “đánh bóng hình ảnh quốc tế” trong khi tiếp tục bắt giữ và kết án các nhà báo công dân, luật sư nhân quyền và các blogger độc lập.

Phản ứng từ các chính phủ như Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Anh thường không trực tiếp chỉ trích việc Việt Nam trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền, nhưng họ bày tỏ quan ngại về hồ sơ nhân quyền của Việt Nam trong các dịp đối thoại song phương hoặc các báo cáo nhân quyền thường niên.

Phản ứng từ cộng đồng người Việt hải ngoại

Cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, Canada, Úc và châu Âu đã lên tiếng phản đối gay gắt, tổ chức biểu tình trước các trụ sở Liên Hiệp Quốc hoặc tòa đại sứ Việt Nam để phản đối việc trao ghế cho một chế độ “đàn áp chính trị và vi phạm nhân quyền có hệ thống”.

Nhiều tổ chức như Ủy ban Bảo vệ Người Lao Động Việt Nam, VOICE, hay các nhóm vận động như Liên Minh Dân Chủ Việt Nam đã gửi thư phản đối đến các phái đoàn ngoại giao và kêu gọi cải cách cơ chế bầu chọn của LHQ.

Tóm lại, dù bị lên án rộng rãi từ giới hoạt động và các tổ chức nhân quyền, việc Việt Nam 2 lần trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc phản ánh sự bất cập trong cơ chế bầu chọn của cơ quan này. Phản ứng của các chính phủ phương Tây tương đối dè dặt, cho thấy họ ưu tiên chiến lược địa chính trị và lợi ích kinh tế hơn là gây áp lực trực diện.

Việc một nhà nước độc đảng, kiểm duyệt truyền thông và đàn áp quyền tự do chính trị như Việt Nam ngồi vào Hội đồng Nhân quyền không chỉ là một nghịch lý, mà còn làm suy giảm uy tín và hiệu lực đạo đức của chính Liên Hiệp Quốc.

Đồng thời, việc Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc không phải là minh chứng cho việc họ tôn trọng nhân quyền, hồ sơ nhân quyền đã có cải thiện… mà chỉ là kết quả của toan tính thực dụng chính trị giữa các quốc gia có liên quan. Và chừng nào cộng đồng quốc tế còn đặt ưu tiên chiến lược lên trên nguyên tắc, thì những nghịch lý như thế này sẽ còn lặp lại – không chỉ với Việt Nam, mà với nhiều quốc gia độc tài khác trên thế giới.

Cũng thế, việc trúng cử, trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền cũng không biện minh được cho thực tế rằng, chế độ Cộng Sản Việt Nam là quốc gia vi phạm nhân quyền hàng đầu, thông qua hàng loạt hành xử như đàn áp, bỏ tù các tiếng nói đối lập, bất đồng chính kiến, hành hạ, ngược đãi dã man tù nhân chính trị, cấm đoán tự do báo chí, lập hội, hội họp, tôn giáo, xâm phạm vào các quyền tài sản nhà đất, ruộng vườn hợp pháp của công dân…

Hoa Thịnh Đốn, ngày 14 Tháng Bảy 2025

LS Đặng Đình Mạnh


[*] “Khi cáo giữ chuồng gà – một lần nữa Hội đồng Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc cho thấy những giới hạn trong cấu trúc bầu cử của mình.” trích từ tờ The Economist, 2022

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”