Tại sao hiệp ước mới của LHQ về “Biển cả” lại quan trọng đến vậy?

Biển cả. Ảnh: Getty Images
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Nguồn: Why a new UN treaty to safeguard the ‘high seas’ matters,” The Economist, 08/03/2023

Biên dịch: Nguyễn Thanh Mai

Các vùng biển quốc tế bị lãng quên từ lâu cuối cùng sẽ nhận được nhiều sự bảo vệ hơn

Biển cả, thứ bao phủ gần ba phần tư bề mặt Trái đất, có vai trò duy trì và điều hòa sự sống trên hành tinh. Mỗi năm, nó hấp thụ khoảng một phần tư lượng carbon dioxide do nhân loại thải ra. Ngoài ra nó cũng có giá trị kinh tế. Thực phẩm, vận tải biển, du lịch và các hoạt động khác trên đại dương có trị giá khoảng 2,5 nghìn tỷ đô la hàng năm. Nhưng gần hai phần ba đại dương nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế, kéo dài 200 hải lý (370km) từ bờ biển của các quốc gia. Điều này có nghĩa là khoảng 219 triệu km vuông đại dương, được gọi là “biển cả”, nằm ngoài thẩm quyền của bất kỳ quốc gia nào. Những khu vực này dễ bị tàn phá bởi các nhà nước, doanh nghiệp và tội phạm. Hai phần ba trữ lượng cá ở vùng biển cả bị khai thác quá mức, theo Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế – một mạng lưới liên kết các nhóm bảo tồn và các chính phủ. Nhưng không có cách nào để giải quyết những vấn đề này – cho đến bây giờ. Vào ngày 4 tháng 3, các nhà đàm phán tại Liên Hợp Quốc  đã đồng ý về hiệp ước quốc tế đầu tiên để bảo vệ vùng biển cả. Hiệp ước này có thể đạt được những gì?

Chỉ có khoảng 1% các vùng biển hiện đang trong trạng thái được bảo vệ, bao gồm một vùng biển 600.000 km² của Bắc Đại Tây Dương vốn quan trọng với các loài chim biển. Hiệp ước Biển cả mới sẽ thiết lập một khuôn khổ pháp lý cho nhiều khu vực như vậy. Bất kỳ quốc gia nào ký thỏa thuận cuối cùng – mà chỉ riêng việc phê chuẩn có thể sẽ mất vài năm – sẽ có thể đề xuất bảo vệ một khu vực biển cả và đề xuất các biện pháp, chẳng hạn như giới hạn đánh bắt cá hoặc vận tải biển, để giúp bảo vệ vùng biển đó. Các bên quan tâm khác, bao gồm các nhà khoa học và doanh nghiệp, sẽ xem xét các đề xuất như vậy trước khi các quốc gia bỏ phiếu. Nếu đạt được sự ủng hộ của đủ số quốc gia theo quy định, khu vực được bảo vệ đó sẽ được thành lập. Các bên ký kết hiệp ước sau đó sẽ có nghĩa vụ áp dụng các quy tắc đối với khu vực đó thông qua các cơ quan khác như Tổ chức Hàng hải Quốc tế, nơi điều chỉnh ngành vận tải biển.

Lần đầu tiên, các bên ký kết cũng sẽ có nghĩa vụ thực hiện các đánh giá tác động môi trường đối với các hoạt động có khả năng gây tổn hại như khai thác biển sâu. Và họ sẽ phải chia sẻ với các quốc gia khác dữ liệu và công nghệ cần thiết cho việc nghiên cứu khoa học hoặc giám sát môi trường. Hiệp ước cũng bao gồm các quy tắc điều chỉnh việc phân chia lợi nhuận thu được từ “tài nguyên di truyền biển”, như nguyên liệu từ thực vật và động vật đại dương được sử dụng bởi các ngành công nghiệp như dược phẩm và mỹ phẩm. Việc tiếp cận các tài nguyên này từ lâu đã làm cho nỗ lực đạt được một thỏa thuận quốc tế về biển cả khó khăn hơn. Nhưng bất chấp đột phá lần này, sẽ không dễ dàng để tìm ra cách chia sẻ lợi nhuận một cách “công bằng và bình đẳng”, như hiệp ước yêu cầu.

Thỏa thuận này sẽ giúp các quốc gia đáp ứng cam kết bảo vệ 30% diện tích đất liền và biển của thế giới vào năm 2030, như đã thỏa thuận tại COP15, một hội nghị thượng đỉnh về đa dạng sinh học của Liên Hợp Quốc được tổ chức vào năm ngoái. Các vùng biển cả có thể không có các hệ sinh thái đa dạng sinh học đầy màu sắc như ở vùng biển gần bờ, nhưng mọi phần của biển phải mạnh khỏe nếu muốn các đại dương mạnh khỏe. Và các hệ sinh thái mạnh khỏe sẽ giảm thiểu biến đổi khí hậu bằng cách điều chỉnh nhiệt độ, hấp thụ carbon và sản xuất oxy. Chỉ riêng hiệp ước mới sẽ không thể đạt được điều đó; thay vào đó cần phải có giám sát toàn diện. Vẫn chưa rõ nó sẽ được thực thi như thế nào (ví dụ, các tổ chức quản lý nghề cá đã phải vật lộn để giữ cho hoạt động đánh cá ở vùng biển cả được bền vững). Các quốc gia từ lâu đã đưa ra những lời hứa đầy tham vọng nhưng chưa được thực hiện về vấn đề đa dạng sinh học. Nhưng ít ra một phần bị lãng quên từ lâu của hành tinh đang được quan tâm.

Nguồn: Nghiên Cứu Quốc Tế

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”