Thấy Gì Sau Kỳ Họp Vừa Qua Của Quốc Hội Cộng Sản Việt Nam?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Lần họp thứ 6, Quốc Hội khóa 11 của Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã kết thúc vào ngày 3/12/2004, với việc thông qua 6 dự luật như Luật Điện lực, Luật Cạnh tranh, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Xuất bản, Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi), Luật An ninh quốc gia và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2005. Ngoài ra, Quốc hội CSVN đã cũng thảo luận về 9 dự án luật, bộ luật. Một số Bộ trưởng các ngành và chính Thủ tướng CSVN Phan Văn Khải (lần đầu tiên) cũng “bị tham gia” vào phần “trả lời chất vấn” trước Quốc hội. Nhìn chung, kỳ họp lần này của Quốc hội CSVN cũng chẳng có gì đặc biệt, về hình thức lẫn nội dung; ngoại trừ có vài điều đáng nói về chính những lời phát biểu, trả lời của các quan chức CSVN mà qua đó, mọi người có thể nhìn thấy rõ hơn về hiện tình đất nước và về bộ máy chính quyền CSVN.

Trong lời mở đầu phần “trả lời chất vấn” của mình, Phan Văn Khải nói như khoe rằng: “Chưa bao giờ có tiền lệ Thủ tướng trả lời chất vấn nhưng tôi đã sẵn sàng…”. Ở đây cũng xin nói rõ hơn là hình thức trả lời chất vấn trong Quốc hội CSVN không giống như phương thức trả lời chất vấn trực tiếp, cùng lúc, như ta thấy trong Nghị Viện Anh Quốc khi Thủ tướng Tony Blair phải đứng mũi chịu sào, trả lời trực tiếp từng câu hỏi thẳng thừng, không cho biết trước từ các nghị viên. Phần “trả lời chất vấn” tại Quốc hội CSVN chỉ nên được xem là phần “Hỏi-Đáp” thì đúng hơn. Tất cả các câu hỏi đều được các đại biểu đọc ra trước Quốc hội, rồi sau đó (với phần giải lao) Phan Văn Khải mới bắt đầu trả lời theo nhóm câu hỏi-vấn đề (chứ cũng không phải cho từng câu hỏi) mà đa phần là trả lời chung chung vì ngại đụng chạm đến phần trách nhiệm của các Bộ trưởng trong ngành liên hệ.

Đi vào phần “Hỏi-Đáp”, trích lời báo Tuổi Trẻ trong nước cho biết: “TT (Thủ tướng) mở đầu bằng cách nhận thiếu sót rằng, trong báo cáo của mình đã thiếu phần nhận định những gì đã làm được và chưa làm được! Còn sống, còn làm việc, theo TT là còn có ưu và khuyết…”. Trong phần báo cáo thật quan trọng của một Thủ tướng trước Quốc hội, hay nói cách khác là trước toàn dân vì chỉ có những lần báo cáo như thế này thì toàn dân mới được nghe và biết trực tiếp từ lãnh đạo quốc gia về hiện tình đất nước, mà ông ta đã “thiếu” hoặc “quên” nhận định về những việc đã làm được và chưa làm được thì hóa ra đây vẫn là cách nói và hành xử “huề vốn” trong giới lãnh đạo của một Đảng cầm quyền tại một quốc gia cộng sản.

Tiếp theo sau đó là một loạt những điệp khúc quen thuộc được Phan Văn Khải lập lại về những khó khăn, thiếu sót, những biện pháp sửa đổi, chấn chỉnh.v.v… đối với các vấn đề như tham nhũng, nhũng nhiễu, rối loạn kỷ cương (trên bảo dưới không nghe), thất thoát và lãng phí trong xây dựng cơ bản, đầu tư, khủng hoảng giáo dục, kinh tế thiếu cạnh tranh.v.v… Tuy vậy, hai điều đáng chú ý mà Phan Văn Khải có đề cập là tầm quan trọng của báo chí và vấn nạn tham nhũng, được báo Tuổi Trẻ ghi lại như sau: “…Đặc biệt, TT (Thủ tướng) nói, ông rất coi trọng kênh thông tin từ báo chí và sẵn sàng thành lập các đoàn thanh tra mà cụ thể là năm qua, chính phủ đã xử lý hơn 140 vụ tiêu cực do báo chí cung cấp… TT nói, nếu không thận trọng và nghiêm khắc trong thời kỳ mới chuyển đổi này, thì không khéo chúng ta sẽ biến tài sản quốc gia thành tài sản cá nhân… Tham nhũng, tiêu cực là bộ phận xấu trong bộ máy của chúng ta!” Nói như thế cũng có nghĩa là bộ máy chính quyền Nhà nước và hệ thống Đảng đã không giúp giải quyết được nạn tham nhũng. Nói như thế cũng có nghĩa là nạn tham nhũng và sự quản lý độc quyền của Đảng CSVN đã biến tài sản của quốc gia dân tộc trở thành tài sản riêng của những tư bản đỏ, những cán bộ, quan chức… Chắc chắn, Phan Văn Khải đã biết đến 2 công cụ chính yếu mà các quốc gia dân chủ tiên tiến dùng để giải quyết nạn tham nhũng là truyền thông (độc lập) và đối lập (đa nguyên) nhưng ông không thể và không muốn đề cập đến. Chưa hết, trong lời bế mạc kỳ họp này, Nguyễn Văn An, Chủ tịch Quốc hội CSVN, nói: “Qua báo chí và dư luận nhân dân, chúng ta nhận thấy Quốc hội ngày càng gần dân hơn chứ chưa phải gần lắm, ngày càng sát dân hơn chứ cũng chưa sát lắm, ngày càng thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của dân hơn nhưng cũng chưa phải là thấu hiểu hết…” Đã bao năm qua, Đảng CSVN luôn lớn tiếng tuyên truyền là tiếng nói, là đầy tớ của nhân dân; Đảng đại diện lãnh đạo, cầm quyền vì quyền lợi của toàn dân.v.v… mà cho đến ngày hôm nay vẫn chưa gần lắm với dân, chưa sát lắm với dân và chưa hiểu thấu hết nguyện vọng của dân? Vậy thì 30 năm qua Đảng CSVN đã lo làm những chuyện gì? Vậy thì chừng nào Đảng CSVN mới ngưng, bước xuống để người khác, đảng phái khác lên cầm quyền mà phục vụ quyền lợi của nhân dân? Chính đại biểu Quốc hội CSVN Dương Trung Quốc đã hỏi và trình bày thẳng với Phan Văn Khải trong phần “trả lời-chất vấn” như sau: “…Văn hóa từ chức như đã bị lãng quên? Thủ tướng đã nhiều lần băn khoăn về những yếu kém của bộ máy công quyền Nhà nước, vậy với trách nhiệm của Thủ tướng, với tư cách Tổng tư lệnh của Bộ máy công quyền, sẽ được hiểu thế nào? Có vẻ như Thủ tướng rất khó cách chức những người dưới quyền, dẫn tới tình trạng “Trên bảo dưới không nghe” kéo dài trong bộ máy công quyền. Thủ tướng đã có biện pháp gì để khắc phục? Chính phủ chúng ta đang mất đi một “văn hóa” rất quan trọng là “văn hoá từ chức”.

Qua những tuyên bố, phát biểu ở trên của các quan chức chính quyền CSVN, hẵn ai cũng dễ dàng nhận thấy một tình trạng thật đau lòng hiện nay của đất nước dưới sự lèo lái và kiềm hãm của một bộ máy bất khiển dụng mà chính những người cầm quyền tại Việt Nam cũng đang tỏ ra bất lực. Điều đáng nói ở đây là sức ì, sự ù lì, và tư duy cực quyền, bảo thủ và độc tài đã che hết đi những con mắt của giới lãnh đạo CSVN. Họ không dám mạnh dạn canh tân chính con người họ và chủ thuyết cộng sản mà họ đã theo đuổi sau bao nhiêu năm qua. Nói một cách vắn tắt, chỉ khi nào Đảng và Quốc hội CSVN thực hiện được 2 điều quan trọng như đã nói ở trên là tôn trọng quyền tự do báo chí và chấp nhận có đối lập, đa nguyên và đa đảng thì lúc đó Đảng CSVN mới có thể nói là đã ở gần, sát và hiểu được dân hơn. Chỉ khi đó, những vấn nạn của dân tộc mới có thể được giải quyết một cách nhanh chóng và hữu hiệu. (Đ.V.)

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”