Thế giới trong đại dịch COVID-19: Tình hình chung

Tình hình đại dịch COVID-19 trên thế giới, tính đến 15/4/2020 có 2.006.513 ca nhiễm được báo cáo, xác nhận. Ảnh chụp màn hình Center for Systems Science and Engineering (CSSE), Johns Hopkins University, Hoa Kỳ
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

PHẦN I: TÌNH HÌNH CHUNG

1. Chỉ dấu lây lan đang khựng lại

Sau một tháng rưỡi bùng nổ đại dịch COVID-19 trên khắp thế giới, ngoài Trung Cộng (1.909.418 bị nhiễm, 118.504 tử vong, 440.273 khỏi bệnh) đã có một số chỉ dấu sơ khởi về sự lây lan bắt dầu khựng lại. Các quốc gia bị nhiễm nhiều nhất là những nước tiền tiến Tây Phương, với nền kinh tế rộng mở cho sự trao đổi hàng hoá, tự do di chuyển (Hoa Kỳ, Ý, Tây Ban Nha, Pháp, Anh), với một trường hợp ngoại lệ Đức (128.208 bị nhiễm, 3.043 tử vong, và 50% khỏi bệnh, một trong những tỷ số cao nhất thế giới) mà các chuyên viên về y tế vẫn chưa giải thích nổi.

Tại Ý, nước có sự bùng phát rất mạnh mẽ tại Liên Âu với 20.465 người chết (12/04/20), tỷ số tử vong đã chậm lại và trở lại mức cách đây 1 tháng. Tuy nhiên hiện nay, sự khác biệt giữa những trường hợp mới và những người khỏi bệnh vẫn còn ở mức dưới 2000, nhưng đã giảm một nửa (khoảng 4000) trong thời điểm vào tuần lễ cuối cùng của tháng Ba, 2020.

Tại Tây Ban Nha, nước có sự bùng phát mạnh mẽ sau Ý, với 18.506 người chết, với 172.541 trường hợp bị nhiễm. Một số chỉ dấu cũng đáng khích lệ. Tỷ số người khỏi bệnh và số trường hợp bị nhiễm ở mức cao 39,1% (23% trên toàn thế giới). Trong lúc sự khác biệt giữa những trường hợp mới và những người khỏi bệnh ở mức 500, nhưng đã giảm gần 80% (khoảng 6.500) trong thời điểm vào tuần lễ cuối cùng của tháng Ba, 2020.

Riêng tại Pháp, vì chính phủ Pháp gần đây mới tính thêm vào con số tử vong tổng quát (14.967), con số tại các nhà dưỡng lão (5,140 người trên 70 tuổi), nên con số trồi sụt không bình thường. Trong lúc sự sai biệt giữa những trường hợp mới và số người khỏi bệnh đã xuống ở mức 2.000 (tức giảm 2/3 so với cuối tháng Ba, 2020, trên 6.000).

Tại Hoa Kỳ, cần phải chờ thêm 3-4 ngày nữa để xem, con số tử vong có xuống thật sự hay không. Tại Hoa Lục, khó có thể tin được vào những số trường hợp bị nhiễm và con số tử vong chính thức từ lãnh đạo Trung Cộng. Chỉ cần tính theo sự quan sát của người dân Vũ Hán trước 8 nhà hỏa táng, con số có thể lên đến 48.000 người tử vong cho riêng thành phố Vũ Hán.

2. Chữa trị, phòng ngừa

Hiện nay vẫn chưa có thuốc chữa trị hữu hiệu nào theo tiêu chuẩn y tế phổ thông dù tại Liên Âu, Hoa Kỳ, Trung Cộng có xử dụng Chloroquine, hay thuốc ngừa lao BCG. Tuy nhiên nhiều viện bào chế thuốc, phòng thí nghiệm tại Hoa Kỳ, Nhật, Pháp, Đài Loan, Hoa Lục… đang nỗ lực thử nghiệm, ngay cả trên những người tình nguyện, một cách đốt giai đoạn so với quy trình điều chế thuốc bình thường. Mục tiêu là để tìm ra những phân tử (molecule) có khả năng làm tăng sức kháng thể, hay ngăn cản sự phát tác (inhibit) của siêu vi khuẩn corona (từ 18-24 tháng từ lúc chế ra phân tử thuốc, thử trong phòng thí nghiêm (in vitro), rồi thử trên thú vật và con người (in vivo) và kết quả được chuẩn y bởi các giới chức y tế có thẩm quyền).

Trung Cộng cũng đã nỗ lực tìm ra thuốc giải, nhằm xử dụng cho mục tiêu chính trị (khỏa lấp nguồn gốc từ Hoa Lục, củng cố hình ảnh lãnh đạo của Tập Cận Bình). Đây đang là một cuộc chạy đua nước rút giữa các siêu cường. Quốc gia, viện bào chế nào tìm ra thuốc chủng ngừa trước và hữu hiệu sẽ tạo được ưu thế rất quan trọng về mặt chính trị và tài chánh.

Cách ly toàn diện hay từng phần vẫn là phương cách hữu hiệu nhất để giảm lây lan, song song với việc đeo khẩu trang, khử trùng tay, và nhu cầu xét nghiệm một cách rộng rãi. Nhờ tiến hành song song các biện pháp này mà nhiều quốc gia Á Châu như Đài Loan đã hầu như thành công trong việc ngăn chặn đại dịch Corona (393 trường hợp nhiễm, 6 tử vong), cũng như Hàn Quốc (10.537, 217), Nhật Bản (7370, 123), Singapore (2918, 9).

Trong lúc đó, các quốc gia độc tài toàn trị như Trung Cộng, CSVN, Bắc Hàn công bố nhiều kết quả “khích lệ” trong vấn đề phòng chống đại dịch thường cho mục tiêu tuyên truyền.

Nói chung, các nhà lãnh đạo chính trị rất lo là không tiên liệu trước được, nếu cho sinh hoạt kinh tế trở lại, đại dịch có tái phát lại hay không và nhất là ở mức độ nào, khi các điều kiện xét nghiệm, chủng ngừa trên hơn 4 tỷ người không thể nào hoàn tất dù trong nhiều năm trời, trong sự liên hệ chằng chịt của nền kinh tế toàn cầu.

3. Hồi phục kinh tế

Bắt đầu có nhiều lên tiếng từ xã hội dân sự, ngay cả một số nghiệp đoàn cho biết là nhu cầu bỏ dần cách ly, để phục hồi kinh tế là một nhu cầu ngày càng bức thiết. Nếu không, sau cơn đại dịch sẽ có khủng hoảng kinh tế, dẫn đến khủng hoảng xã hội, với những hậu quả trầm trọng hơn hậu quả gây ra bởi đại dịch.

Hiện có hơn 8 triệu người đang lâm vào cảnh thất nghiệp một phần trong 700.000 xí nghiệp tại Pháp. Tình trạng cách ly tại Liên Âu sẽ kéo dài ít nhất đến đầu tháng Năm, 2020. Tuy nhiên một số hãng xưởng kỹ nghệ (thiết bị kỹ nghệ nặng, sản xuất xe hơi,…) cần thiết bắt đầu mở lại vào tuần 20 tháng Tư, với điều kiện khi áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm được sức khỏe cho nhân viên.

Tại Liên Âu, các chính phủ đang chuẩn bị cho hoạt động kinh tế chạy trở lại, với ngân khoản trợ giúp lên đến 500 tỷ Euro. Số người thất nghiệp tại Hoa Kỳ đã tăng hơn 6,6 triệu vào đầu tháng Tư, 2020. Chính quyền Hoa Kỳ đang chuẩn bị tái hoạt động kinh tế vào đầu tháng Năm, 2020 với một gói trợ giúp lên đến 2 ngàn tỷ Mỹ Kim. Nếu tình trạng đình trệ kinh tế kéo dài, tổng sản lượng nội địa GDP của các quốc gia sẽ suy giảm 3-4% mỗi tháng đình trệ (ở Pháp là -8%).

Qua đại dịch, Hoa Kỳ, Liên Âu nhận ra sự lệ thuộc quá nhiều vào Trung Cộng trên nhiều lãnh vực thiết yếu: thiết bị y tế, máy móc y khoa, năng lượng, thiết bị điện toán, hóa học, phụ tùng hàng không… ngoài những sản phẩm gia dụng đại chúng.

(Còn tiếp)

14/4/2020

Nguyễn Ngọc Bảo

XEM THÊM

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”