Tô Lâm và giấc mơ GDP tăng trưởng hai con số

Ảnh minh họa
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ngày 5 tháng 10 năm 2025 vừa qua, Tổng cục Hải quan Việt Nam công bố một con số khiến giới quan sát quốc tế chú ý: Thặng dư thương mại của Việt Nam với Hoa Kỳ đạt 99 tỷ USD trong chín tháng, tăng 28% so với cùng kỳ năm trước, bất chấp việc chính quyền Trump II đã áp mức thuế “có đi có lại” 20% từ tháng 8. Trong một nền kinh tế mà kim ngạch xuất khẩu chiếm gần 90% GDP, đó là kết quả đáng kinh ngạc. Nhưng ẩn dưới những con số hào nhoáng ấy là một câu hỏi lớn: Liệu Việt Nam có thực sự đang bước vào giai đoạn bứt phá, hay chỉ đang tận hưởng phần dư âm của chiến lược “tránh Trung Quốc” của các tập đoàn đa quốc gia?

Câu trả lời, theo hầu hết chuyên gia kinh tế khu vực, là cả hai – nhưng nghiêng về phần sau.

Thặng dư không theo năng lực

Việt Nam đã trở thành “điểm sáng” của châu Á nhờ làn sóng dịch chuyển sản xuất khỏi Trung Quốc sau đại dịch  Covid và căng thẳng thương mại Mỹ–Trung. Hàng trăm nhà máy, từ Samsung, Foxconn, Intel đến Lego, chuyển dây chuyền lắp ráp về Bắc Ninh, Hải Phòng, Bình Dương. Nhưng thực tế, Việt Nam vẫn đang xuất khẩu hộ người khác — lắp ráp sản phẩm nhập linh kiện từ Trung Quốc, Hàn Quốc rồi tái xuất sang Mỹ. Thặng dư với Mỹ vì thế là ảo tưởng của sự phụ thuộc chứ không phải là kết quả của năng lực nội sinh của nền kinh tế.

Thành công của Việt Nam trong việc duy trì thặng dư với Mỹ phần lớn đến từ chuỗi cung ứng phân mảnh toàn cầu. Theo số liệu của Bộ Công Thương, khoảng 57% giá trị hàng xuất khẩu của Việt Nam được tạo ra từ nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu.

Ngành điện tử – lĩnh vực xuất khẩu lớn nhất – là ví dụ điển hình. Các sản phẩm mang nhãn “Made in Vietnam” của Apple, Samsung hay Dell thực chất có hơn 70% giá trị linh kiện nhập từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore. Ngành dệt may, giày dép – vốn sử dụng hàng triệu lao động – lại phụ thuộc nặng nề vào bông, vải và da nhân tạo từ Trung Quốc.

Điều này đã tạo ra sự nghịch lý trong phát triển: Việt Nam thặng dư với Mỹ nhưng thâm hụt nặng với Trung Quốc (ước tính 68 tỷ USD năm 2025). Mỗi khi kinh tế Trung Quốc chậm lại, sản xuất của Việt Nam cũng chao đảo theo.

Cấu trúc kinh tế như vậy khiến Việt Nam dễ tổn thương trước biến động thương mại và tỷ giá. Khi Tổng thống Trump áp thuế, doanh nghiệp Việt Nam được lợi tạm thời nhờ đồng Việt Nam đang yếu, nhưng chi phí nhập nguyên liệu lại tăng ngay sau đó. Lợi thế giá rẻ trở nên mong manh. Các nhà phân tích ở Singapore và Tokyo nhận định: “Việt Nam đang vận hành nền kinh tế gia công tốt nhất thế giới – nhưng lại là nền kinh tế gia công dễ bị tổn thương nhất.”

Từ ngày ông Tô Lâm lên làm tổng bí thư vào tháng 8 năm 2024, đã đưa ra bốn trụ cột chiến lược trong đó có hai trụ cột quan trọng là thúc đẩy đầu tư vào công nghệ cao, đồng thời hỗ trợ việc phát triển công ty tư nhân để làm bàn đạp phát triển nhằm thoát ta khỏi nền kinh tế gia công thô sơ.

Trong bối cảnh cạnh tranh địa – kinh tế ngày càng gay gắt, Việt Nam đang đứng ở ngã ba chiến lược. Một bên là Mỹ – thị trường xuất khẩu lớn nhất, một bên là Trung Quốc – nhà cung ứng lớn nhất.

Sự “tách rời có kiểm soát” (managed decoupling) của Washington với Bắc Kinh khiến Hà Nội trở thành mắt xích thay thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Nhưng việc “được chọn” của Hà Nội cũng đồng nghĩa với sự kiện là bị Washington giám sát rất chặt chẽ.

Từ giữa năm 2025, Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã nhiều lần cảnh báo về nguy cơ “trung chuyển” (transshipment) – hiện tượng hàng Trung Quốc đội lốt Việt Nam để lách thuế. Nếu bị xác định có hành vi gian lận xuất xứ, Việt Nam có thể đối mặt với biện pháp trừng phạt nặng nề, tương tự như vụ kiện năm 2019 đối với thép cán nguội.

Tình hình này đã dẫn Việt Nam đối diện với hai nghịch cảnh: Nếu Việt Nam siết chặt nhập khẩu từ Trung Quốc thì chi phí sản xuất tăng, mất lợi thế cạnh tranh. Còn nếu tiếp tục phụ thuộc thì nguy cơ bị Hoa Kỳ trừng phạt và làm mất uy tín thương mại ngày gia tăng.

Đây là vấn đề mà Việt Nam phải giải quyết trước tiên, trước khi nói đến mơ GDP tăng trưởng lên hai con số. Tại sao?

Ảo tưởng GDP tăng trưởng hai con số

Trong hơn một thập niên qua, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng 6–7%/năm, thuộc nhóm cao nhất Đông Nam Á. Tuy nhiên, cấu trúc tăng trưởng vẫn dựa trên ba trụ cột dễ vỡ: FDI, xuất khẩu và đầu tư công.

Thứ nhất: Đầu tư ngoại quốc (FDI) hiện chiếm hơn 72% tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng khu vực này gần như tách biệt khỏi phần còn lại của nền kinh tế nội địa. Tỷ lệ nội địa hóa trung bình chỉ khoảng 28%, thấp hơn nhiều so với Thái Lan (55%) hay Malaysia (50%). Các tập đoàn đa quốc gia ít chia sẻ công nghệ; chuỗi cung ứng trong nước vì thiếu chiều sâu. Doanh nghiệp Việt vẫn chủ yếu là vệ tinh cấp thấp – gia công bao bì, linh kiện nhỏ, dịch vụ hậu cần.

Thứ hai: Năng suất lao động của Việt Nam hiện chỉ bằng 11% của Singapore, 40% của Thái Lan và 60% của Indonesia. Mức tăng năng suất bình quân giai đoạn 2015–2024 chỉ đạt 3,7%/năm – quá thấp để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Thứ ba: Hạ tầng logistics chiếm tới 16–18% chi phí sản phẩm, cao gấp đôi các nước láng giềng. Ngoài ra thể chế kinh tế – dù cải thiện – vẫn bị cản trở bởi quy trình phê duyệt dự án chậm, pháp lý chồng chéo và quản trị địa phương yếu.

Chưa kể, khu vực tư nhân trong nước – trụ cột được kỳ vọng tạo đột phá – đang chịu áp lực tín dụng, thuế và rủi ro chính trị khiến niềm tin đầu tư suy giảm.

Ông Tô Lâm đặt mục tiêu tăng trưởng GDP 10% năm 2026, dựa trên ba giả định: 1) Làn sóng FDI tiếp tục mạnh mẽ, 2) Xuất khẩu sang Mỹ duy trì đà tăng, và 3) Khu vực dịch vụ, tiêu dùng nội địa hồi phục sau đại dịch.

Tuy nhiên, ba giả định này đều đang lung lay. Mỹ bước vào chu kỳ siết tiền tệ, khiến tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu giảm. EU đang siết tiêu chuẩn môi trường và truy xuất nguồn gốc, đe dọa ngành dệt may, da giày. Trong khi đó, dòng vốn FDI bắt đầu dịch chuyển sang Ấn Độ – thị trường lớn, chi phí tương đương nhưng có năng lực công nghệ và nhân lực cao hơn.

Theo dự báo của Ngân hảng Phát triển Á Châu (ADB), tăng trưởng của Việt Nam năm 2026 chỉ khoảng 7%, trong kịch bản tốt nhất là 8% – thấp hơn nhiều so với mục tiêu hai con số. Các chuyên gia kinh tế gọi đó là “ảo tưởng chính trị”: Một mục tiêu có tính biểu tượng để khẳng định vai trò điều hành của nhà nước, hơn là dựa trên nền tảng kinh tế thực tế.

Tóm lại, thặng dư thương mại có thể tạo cảm giác thịnh vượng, nhưng thặng dư không đồng nghĩa với năng lực. Việt Nam đang ở giai đoạn mà tăng trưởng dựa trên xuất khẩu không còn đủ động lượng để đẩy mạnh phát triển vì nền kinh tế chỉ mắc kẹt vào vòng xoáy quen thuộc trong 3 thập niên qua: “Xuất khẩu càng nhiều – phụ thuộc càng sâu.”

Giấc mơ tăng trưởng hai con số vì vậy sẽ chỉ còn là ảo tưởng của các bảng thống kê, trừ khi Việt Nam dám phá bỏ vòng lặp gia công để tự định hình vị thế mới trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Trung Điền

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Seoul về đêm. Ảnh: Travel oriented, via Wiki commons

Nhà nước “mạnh” để phát triển hay “mạnh” để kiểm soát? Một ngã rẽ của Việt Nam hôm nay

Trong bối cảnh Việt Nam đang đặt ra những mục tiêu phát triển đầy tham vọng cho thập niên tới, bao gồm cả kỳ vọng tăng trưởng cao, cách tiếp cận này gợi mở một câu hỏi lớn hơn: Liệu việc xây dựng một “nhà nước mạnh” theo hướng tập trung quyền lực có thể đồng thời tạo ra động lực bứt phá kinh tế, hay sẽ đặt ra những giới hạn mới cho khả năng thích ứng và đổi mới của hệ thống?

Nên hiểu thế nào về quy chế tỵ nạn của Lê Chí Thành

Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty) đã lên tiếng về trường hợp của (Lê Chí) Thành, trong văn bản của mình, họ khẳng định quan điểm “Không ai nên bị trả về một quốc gia nơi họ đang đối mặt với nguy cơ bị bỏ tù vì lên tiếng tố cáo vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Bất kỳ hành động nào như vậy sẽ đều vi phạm nguyên tắc không trục xuất người tị nạn được quy định trong Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế.”

Công nhân tại một xưởng giày ở Sài Gòn. Ảnh minh họa: Reuters

EU đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch

Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Minh Châu Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới?

Đình chiến của người Mỹ, danh dự của người Ba Tư

Ý niệm rằng Iran là một trung tâm lịch sử, một quốc gia từng là đế chế, một cộng đồng chính trị không chấp nhận bị xếp lại vào vai một kẻ phải nghe lệnh.

Khi xung đột được cảm nhận dưới lăng kính đó, mọi đòn đánh từ bên ngoài không chỉ làm thiệt hại phần cứng quân sự; chúng còn nuôi dưỡng một câu chuyện rất nguy hiểm ở bên trong: Iran không chỉ bị tấn công, Iran bị làm nhục. Và một dân tộc cảm thấy mình bị làm nhục thường không dễ bước vào đình chiến với tâm thế kỹ trị.