Trung Quốc ’càng duy trì, càng bất ổn’

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ngày 30 tháng 9, 2013

Từ chính sách “trường trị cửu an – thiết lập chính quyền vững chắc, an ổn lâu dài” qua thời Đặng Tiên Đế trở thành “giết 20 vạn nhân mạng, ổn định hai mươi năm”, Giang Trạch Dân thì có phương châm “Ổn định là trên hết”, vào tay Hồ Cẩm Đào lại dùng phương thức hòa hoãn ” Xã hội hài hòa”,Việc làm thế nào để giữ vững “ổn định xã hội” vẫn đang là vấn đề đau đầu mà đảng cộng sản Trung Quốc vẫn chưa tìm ra thuốc trị mặc dù đã bước qua 64 cái mùa thu lá vàng rơi.

Từ thập niên 80 của thế kỷ 20 trở lại đây, trong thể chế bắt đầu xuất hiện tình trạng phân quyền giữa trung ương và địa phương, dẫn tới tình trạng rời rạc, không thống nhất với nhau về mặt chính sách, hành động của chính phủ bị phân tán hiệu quả, dẫn tới sự lạc điệu trong chính sách ổn định xã hội, chính quyền lại sao vào việc chữa bệnh cục bộ mà bỏ quên việc chữa trị tận gốc. Chính quyền địa phương là nơi chịu trách nhiệm đối với chính sách ổn định xã hội, đây là kết quả của chính sách đưa quyền lực phân tán xuống dưới được đưa ra từ sau khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa vào thập niên 80, từng là nền tảng động lực để thực hiện cải cách kinh tế Trung Quốc. Mặc dù từ những năm đầu 1990 trở đi, đã có nhiều biện pháp được đưa ra nhằm tập trung lại quyền hạn của chính quyền trung ương, tuy nhiên vẫn còn không gian cho sự phát triển của quyền lực các địa phương, dựa vào tình hình bản địa để thi hành các chính sách mà chính phủ trung ương ban bố xuống.

Vô hình chung, hình thành tình huống chính phủ địa phương bị kẹp giữa người dân và cơ quan chính phủ ở phía trên. Một khi xảy ra những vụ biểu tình chống đối hay tố cáo, bọn họ cần phải ra quyết định hành động thật nhanh chóng trong tình hình mơ hồ không rõ ràng sự kiện chống đối này có thuộc vào phạm vi “mâu thuẫn nội bộ trong lòng quần chúng nhân dân” hay không. Với tình hình thiếu sự chuẩn bị đầy đủ về mặt tài chính, đồng thời lại bị chiếu tướng theo kiểu tư duy thành tích “không có vụ biểu tình chống đối nào” thì mới được cất nhắc thăng quan, đẩy họ vào tình cảnh khốn quẫn. Từ sau khi có cải cách về chính sách thuế năm 1994, dẫn tới tình trạng thâm hụt tài chính nặng nề, đây là một trong những nguyên nhân lớn thúc đẩy các chính phủ địa phương đẩy mạnh chính sách trưng thu đất đai vô tội vạ, mà trưng thu đất đai vô tội vạ chính là nguồn cơn của hàng chục nghìn vụ biểu tình, chống đối hàng năm ở Trung Quốc.

Hơn nữa là việc phải nuôi một bộ máy an ninh, quân cảnh, cảnh sát hùng hậu, chính phủ các địa phương phải tăng cường hơn nữa việc cải thiện tình hình tài chính thông qua các loại thuế, giấy phép cũng như là các đơn phạt hành chính. Ngược lại đó là chính sách tài chính của chính quyền trung ương lại khuyến khích việc thâm ô, tham nhũng cũng như các hành vi hủ bại khác. Mặt khác, chính quyền trung ương lại có ý đồ thông qua những thủ đoạn chính trị khác nhau nhằm vào quá khứ hòng duy trì cục diện, giữ vững sự ổn định xã hội. Tuy nhiên những chống đối và bất mãn của người dân cũng cung cấp những thông tin về sai phạm của chính quyền địa phương cấp cơ sở, từ đó đưa tới việc xét xử ngày càng nhiều hơn những sai phạm của cán bộ chính quyền địa phương, gia tăng hơn nữa hình tượng và tính chính đáng của chính quyền. Vấn đề ở chỗ là chính quyền trung ương với tư duy hành chính lấy mục tiêu “không có biểu tình chống đối” làm thước đo để cất nhắc, đề bạt quan chức, từ đó nảy sinh mâu thuẫn “càng duy trì ổn định, càng bất ổn”.

Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng mâu thuẫn trong chính sách duy trì ổn định xã hội là kết cấu phân quyền giữa trung ương và địa phương. Tính phức tạp trong cơ chế phân quyền, sự khác biêt trong quan hệ cấp trên cấp dưới giữa chính quyền trung ương và địa phương đều là trở ngại lớn cho quá trình kiên trì thực thi chính sách xuống bên dưới của chính quyền trung ương. Tuy nhiên điều này cũng có mặt thuận lợi đó là chính quyền trung ương dễ dàng đổ trách nhiệm lên đầu chính quyền địa phương, có lợi cho việc củng cố tính hợp pháp, chính danh của chính quyền trung ương. Kết quả là, ở mặt nào đó, đa số các cuộc biểu tình chống đối tuy có thể thông qua các biện pháp phi bạo lực để giải quyết hay kết thúc, thì lại xuất hiện những cuộc chống đối bạo lực khác. Nhìn trên bề mặt có thể thấy, hành động bạo lực nổ ra làm trái với chỉ thị của Bắc Kinh, nhưng lại đưa cho Bắc Kinh một lí do tốt để sử dụng bạo lực giải quyết vấn đề, cho nên Bắc Kinh không hề ra lệnh nghiêm cấm các chính phủ địa phương sử dụng bạo lực. Đồng thời lại không giới hạn rõ ràng trách nhiệm của các cơ cấu an ninh, quân đội. Bắc Kinh chỉ là đưa ra các biện pháp thu hồi và xử lí hiện trường, mà lại không tiến hành thực thi các chính sách cắt đứt mầm mống của những vụ biểu tình chống đối. Chính là đảng cộng sản Trung Quốc muốn thông qua các biện pháp duy trì ổn định xã hội một cách bị động, mà không phải thực thi những cải cách chính trị triệt để nhằm triệt tiêu những xung đột lợi ích. Hơn nữa một khi thất bại, Bắc Kinh có thể duy trì khản năng sử dụng “biện pháp giải quyết xung đột mang đặc sắc Trung Quốc” như đã từng diễn ra vào mùa xuân năm 1989.

Nguồn: FB Hu Zi

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Tô Lâm - điển hình xảo ngôn chính trị!

Tô Lâm nói xạo

Một năm trước, trong dịp đánh dấu 50 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Tô Lâm, khi ấy đang ở vị trí quyền lực cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, đưa ra một thông điệp nghe rất đẹp: “khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai.”

Nhưng một năm đã trôi qua. Nhìn lại, câu hỏi không còn là thông điệp ấy có hay hay không mà là nó có thật hay không?

Bản nhạc "Sài Gòn niềm nhớ không tên" sáng tác của nhà văn Nguyễn Đình Toàn (1936-2023), ca khúc - theo GS Nguyễn Văn Tuấn - được xem là hay nhứt ở hải ngoại trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975

Khúc ca cho một thành phố dĩ vãng

Khi nghe câu mở đầu “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên,” tôi bỗng hiểu ra rằng mình đã mất một thứ gì đó mà bấy lâu nay tôi chưa biết gọi tên. Đó cũng là cảm giác chung của hàng triệu người Việt Nam sau biến cố lịch sử.

Và đó cũng là lý do tại sao trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975, “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ được xem là ca khúc hay nhứt ở hải ngoại.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Sau hơn nửa thế kỷ, còn lại bao nhiêu người vui? Bao nhiêu người buồn?

Ngày 30/4 hàng năm không chỉ là một cột mốc thời gian. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nó là vết cắt đi vào lịch sử, để lại những đường sẹo dài trong ký ức dân tộc. Hơn năm mươi năm ấy, mỗi khi tháng Tư trở lại, người ta vẫn thấy lòng mình chùng xuống — không chỉ vì quá khứ, mà còn vì hiện tại.

Một toán người được một tổ chức đưa người vượt biên đưa lên chiếc thuyền hơi nhỏ tại Gravelines, Pháp để vượt biển nhập lậu vào Anh. Ảnh: Gareth Fuller/ PA/ the Guardian

Vì sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi?

Tại sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi? Bất chấp nguy hiểm? Bất chấp nợ nần? Ngay cả khi ai đó nói người Việt vào Anh chỉ để kiếm tiền, chỉ vì lý do kinh tế, chỉ cần nhìn số người Việt đi sang rất nhiều quốc gia khác, như đi lao động xuất khẩu ở những xứ nổi tiếng không tôn trọng nhân quyền như Jordan hay Ả Rập Xê Út, hoặc sang sống lậu ở Thái Lan.