Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Đình Long

Tại Đối thoại Shangri-La, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm một lần nữa trình bày hình ảnh một Việt Nam yêu chuộng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế và đề cao đối thoại. Những thông điệp ấy nghe rất quen thuộc, bùi tài, rất hiển nhiên và rất dễ nhận được những tràng pháo tay từ các chính khách, học giả và tướng lĩnh quốc tế.

Tô Lâm nhấn mạnh ba nguyên tắc: Tôn trọng luật pháp quốc tế, tôn trọng sự khác biệt và không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong giải quyết tranh chấp (1). Nếu chỉ nghe bài phát biểu ấy, nhiều người có thể nghĩ rằng Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chính trị cởi mở hơn, khoan dung hơn và văn minh hơn.

Nhưng điều khiến người dân Việt Nam băn khoăn không phải là những gì ông Tô Lâm nói ở Singapore, mà là những gì đang diễn ra ngay trên đất nước mình.

Bởi nếu luật pháp quốc tế phải được tôn trọng thì tại sao pháp luật trong nước nhiều khi lại bị xem như một công cụ phục vụ quyền lực hơn là một lá chắn bảo vệ người dân? Nếu sự khác biệt phải được tôn trọng trong quan hệ giữa các quốc gia thì tại sao sự khác biệt về chính kiến giữa công dân với chính quyền lại thường bị nhìn nhận như một mối đe dọa? Và nếu việc dùng sức mạnh để giải quyết tranh chấp là điều cần tránh trên trường quốc tế thì tại sao trong nhiều vụ việc dân sinh, đất đai hay khiếu kiện, người dân vẫn thường cảm thấy mình đang đứng trước một bộ máy quyền lực áp đảo mà không có khả năng đối trọng?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Hệ quả là xã hội dân sự ngày càng teo tóp. Các nhóm phản biện độc lập gần như biến mất. Giới trí thức ngày càng thận trọng. Nhiều tổ chức tôn giáo phải hoạt động trong khuôn khổ chật hẹp. Những người hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường hay cổ vũ cho các quyền dân sự cơ bản luôn phải cân nhắc từng lời nói, từng bài viết. Một cơ thể xã hội mà mọi tiếng nói phản biện đều suy yếu thì khó có thể khỏe mạnh. Nó giống một bệnh nhân vẫn còn thở nhưng các dấu hiệu sinh tồn đang ngày càng yếu ớt.

Trong bối cảnh ấy, các đợt đặc xá được truyền thông nhà nước ca ngợi như biểu hiện của chính sách khoan hồng lại càng làm nổi bật thêm một câu hỏi khó chịu. Hàng ngàn phạm nhân được trả tự do, nhưng có bao nhiêu người bị kết án vì các hoạt động chính trị ôn hòa, vì bày tỏ quan điểm bất đồng hay vì tham gia các hoạt động xã hội độc lập được hưởng sự khoan hồng đó? (2)

Câu trả lời dường như ai cũng biết.

Những người bị coi là “tù nhân lương tâm” theo cách gọi của nhiều tổ chức quốc tế hầu như vẫn vắng bóng trong các danh sách đặc xá. Điều đó khiến không ít người đặt câu hỏi: Phải chăng tiêu chí nhân đạo chỉ áp dụng cho một số loại tù nhân nhất định, còn những người bất đồng chính kiến thì không? Phải chăng mục tiêu của các đợt đặc xá không hoàn toàn xuất phát từ tinh thần hòa giải dân tộc như tuyên truyền chính thức vẫn khẳng định?

Thậm chí trong dư luận còn xuất hiện những lời đồn đoán cay đắng hơn: Liệu đây có phải là hệ quả của tình trạng quá tải trong hệ thống giam giữ hay không? Không ai có thể khẳng định điều đó nếu không có những dữ liệu minh bạch. Nhưng chính sự thiếu minh bạch ấy lại là nguyên nhân làm nảy sinh các nghi vấn.

Và cũng từ đây xuất hiện một câu hỏi lớn hơn.

Nếu nhà nước Việt Nam thực sự tin rằng mình đang hành xử phù hợp với các chuẩn mực nhân quyền mà lãnh đạo thường xuyên nhắc đến trước cộng đồng quốc tế, tại sao không mạnh dạn mở rộng cánh cửa giám sát độc lập? Tại sao không tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ chế nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, các báo cáo viên đặc biệt hay các tổ chức quốc tế có uy tín tiếp cận thực địa và đối thoại trực tiếp với những người đang bị giam giữ vì các lý do liên quan đến chính trị và tự do ngôn luận?

Một chính quyền tự tin vào sự chính danh của mình sẽ không sợ sự kiểm chứng. Chỉ những nơi còn tồn tại khoảng cách giữa lời nói và thực tế mới phải lo ngại trước ánh sáng của sự giám sát khách quan.

Thế giới hôm nay không còn là thế giới của những bài đít-cua sáo rỗng. Những lời phát biểu bóng bẩy ở Shangri-La có thể tạo ra thiện cảm trong một hội trường. Nhưng uy tín của một quốc gia không được quyết định bởi những tràng pháo tay kéo dài vài phút. Nó được quyết định bởi cách quốc gia ấy đối xử với chính công dân của mình trong suốt nhiều năm.

Các cường quốc có thể vẫn bắt tay Hà Nội, vì những tính toán chiến lược của họ. Họ có thể cần Việt Nam trong những bàn cờ địa chính trị phức tạp của khu vực và trên toàn cầu. Họ có thể tạm gác sang bên nhiều khác biệt để theo đuổi những lợi ích lớn hơn và sát sườn hơn đối với họ. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ không nhìn thấy những nghịch lý đang tồn tại. Nghịch lý đó là: Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả, trừ với “thần dân” của mình!!! (3)

Người dân Việt Nam càng không thể không nhìn thấy. Bởi vậy, câu hỏi cuối cùng vẫn còn nguyên giá trị: Ông Tô Lâm đang nói thật với thế giới, hay chỉ đang trình diễn một phiên bản khác để “đánh bóng Việt Nam” ra cho cho thế giới?

Nếu những nguyên tắc được ca ngợi ở Shangri-La không được áp dụng cho chính người dân Việt Nam, thì đó không còn là vấn đề của riêng một bài phát biểu. Đó là vấn đề của uy tín quốc gia.

Và đó cũng là vấn đề của sự thật!

Bởi lịch sử đã nhiều lần chứng minh rằng: Thế giới sẽ đủ thời gian chiêm nghiệm trước khi có thể được thuyết phục bởi những lời nói dối hào nhoáng trong các diễn ngôn đối ngoại. Không ai có thể mãi mãi che giấu hiện thực bằng những bài diễn văn. Nhất là khi chính hiện thực trong đời sống nội trị đang hiển hiện từng ngày trong cuộc sống của gần một trăm triệu người dân Việt Nam (4).

Tham khảo:

(1) https://tuoitre.vn/bai-phat-bieu-19-lan-nhac-ve-hoa-binh-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-o-doi-thoai-shangri-la-20260530112909542.htm

(2) https://tienphong.vn/cong-bo-quyet-dinh-dac-xa-cho-9950-pham-nhan-dang-chap-hanh-an-phat-tu-post1847638.tpo

(3) https://www.amnesty.org/en/documents/pol10/0320/2026/en/

(4) https://www.hrw.org/world-report/2025/country-chapters/vietnam

 

 

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Ảnh minh họa: Cafef

Khi tài xế Grab không còn đủ sống bằng chính công việc của mình

Cuộc phản đối của tài xế Grab cuối tuần không chỉ là việc tranh chấp về vài phần trăm chiết khấu. Đó còn là sự công bằng trong mô hình dịch vụ gọi xe hiện nay.

Khi một công ty kiểm soát ứng dụng, dữ liệu, giá cước và lượng khách hàng, còn người tài xế phải chịu phần lớn chi phí và rủi ro, thì phần giá trị tạo ra được chia như thế nào?

Grab tạo ra sự thuận tiện cho khách hàng và dĩ nhiên phải vì lợi nhuận doanh nghiệp, nhưng mô hình đó cũng cần phải đủ công bằng để các tài xế có thể sống được bằng công việc của mình.

Hỏa mù truyền thông của nhà cầm quyền: Trường Giang và “quân cờ” lấp liếm bê bối vụ Nguyễn Sỹ Cương

Những ngày qua, không gian mạng đột ngột bùng nổ trở lại chuỗi sóng gió đời tư của diễn viên hài Trường Giang. Từ những tranh cãi quanh lối ứng xử, phát ngôn thô lỗ với đồng nghiệp, cho đến những hành vi bị gán nhãn “thiếu chuẩn mực” với các bạn diễn nữ. Tất cả đều bị đào xới tỉ mỉ, chiếm sóng hoàn toàn trên các bảng xếp hạng “trends.”

Chính trị là quyền lực chính danh: Nguồn gốc, ràng buộc, phép thử

Chính trị tồn tại chừng nào quyền lực còn có thể bị tước bỏ một cách công khai. Khi quyền lực trở thành bất khả xâm phạm, khi không ai có thể thay đổi những người nắm giữ mà không cần dùng đến bạo lực – thì tự do tan biến, công lý lùi bước. Bởi vì không có gì buộc kẻ cầm quyền phải tôn trọng bạn khi họ biết chắc bạn không bao giờ có thể thay thế họ.

Nghị định 328, 329, 330: Việt Nam càng ngày càng trở thành chế độ công an trị

Tháng 8/2026 vừa qua, chính phủ Việt Nam công bố ba nghị định mới – 328, 329, 330 – để càng bóp nghẹt tự do ngôn luận và tự do Internet.

Người Việt ở hải ngoại cần giúp người Việt ở Việt Nam cách bảo vệ an toàn trên mạng. Các chính sách mới kể trên cũng vi phạm nhiều điều ước quốc tế mà nhà nước Việt Nam đã cam kết…