Nguyệt Quỳnh kể chuyện Sử
Lời tác giả:
Cách đây hơn nửa thế kỷ, ở trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng, cứ mỗi thứ năm vào lúc mười giờ sáng, chúng tôi lại xếp hàng xuống sân trường để nghe chương trình Phát Thanh Học Đường. Phát ra từ chiếc loa cũ của trường là những câu chuyện cổ tích như: Ăn Khế Trả Vàng, Tấm Cám, Cây Tre Trăm Đốt, … tôi vừa nghe vừa thầm nghĩ: Tại sao không có những chương trình kể chuyện về lịch sử? Ngày ấy, tôi đã say mê lịch sử qua những quyển sách nhỏ bằng bàn tay do Cục Chính Huấn phát hành mà bố tôi mang về. Và tôi nhủ lòng: Lớn lên, mình sẽ làm điều đó.
Tôi mang cái ước mơ từ thuở lên mười ấy để gởi đến quý báo và ước mong được quý độc giả đón nhận. Đối với tôi, lịch sử đã được hình thành từ lời thề của 18 nghĩa quân Lam Sơn ở Lũng Nhai, từ ánh đèn lóng lánh ngọc của người chép sử Lê Văn Hưu, từ khói sóng trên dòng sông Bạch Đằng, … chỉ một thoáng sử Việt thôi cũng đủ chạm, cũng làm ta yêu sử.
“Nguyệt Quỳnh kể chuyện Sử” là một chuỗi những câu chuyện nho nhỏ hình thành nên niềm yêu mến thiết tha sử Việt trong tôi. Xin được gởi đến quý báo với ước mong được chia sẻ tình yêu đó đến các bạn trẻ khắp nơi.
Trân Trọng,
Nguyệt Quỳnh
***
Nếu nói người làm thơ là kẻ gieo hạt, thì Mạc Đĩnh Chi chính là người gieo những hạt mầm ấy vào tâm hồn chúng ta, người khắc lên thời gian những rung động rất riêng tư. Không ai bảo làm quan thì phải tuấn tú, nhưng dù đỗ Trạng Nguyên, ông suýt bị vua Anh Tông bỏ rơi chỉ vì dung mạo xấu xí của mình.
Phải chăng cũng vì thế mà chúng ta cảm thấy gần gũi với ông? Bởi có ai trong cuộc đời này chưa từng một lần suýt bị bỏ rơi?
Hãy cùng vẹt đám bụi thời gian để tìm về với Mạc Đĩnh Chi – một vị quan đại thần, một nhà ngoại giao lỗi lạc đời Trần, và hơn hết, một tâm hồn đẫm chất thơ.
Khi ông đơn độc cưỡi lừa đi trên phố, hay một buổi chiều muộn đứng trước cửa ải quan đã đóng kín, vị sứ thần người An Nam với thân hình thấp bé ấy vẫn cứ là một loại “ hoa sen trong giếng ngọc” – hiếm hoi và cao quý. Không chỉ vua Anh Tông, mà cả Hoàng Đế Trung Hoa cũng đều nhận ra giá trị của đóa sen này.
Trong một lần đi sứ sang Trung Hoa, gặp lúc sứ thần Triều Tiên vừa dâng lên vua Nguyên một chiếc quạt quý, nhà vua liền lấy chiếc quạt làm đề tài cho sứ thần hai nước làm bài Vịnh. Thoáng thấy sứ thần Triều Tiên viết nhanh về các bậc hiền triết như Y Doãn, Chu Công, Bá Di, Thúc Tề, Mạc Đĩnh Chi liền mượn ý từ những điển tích ấy cho bài Vịnh của mình. Ông viết:
Chảy vàng tan đá, trời đất là lò lửa;
Ngươi lúc ấy là Y Doãn, Chu Công, bậc nho sĩ cự phách.
Gió bấc lạnh lùng, mưa tuyết đầy đường;
Ngươi lúc ấy là Bá Di, Thúc Tề, những ông già chết đói.
Ôi! Dùng thì thành đạt, chẳng dùng thì xếp xó.
Ta và ngươi cũng giống nhau chăng?
Nếu cơn gió ngược giúp máy bay cất cánh, thì chính cơn gió ngược của cuộc đời đã làm nên một thi sĩ Mạc Đĩnh Chi. Suýt bị xếp xó chỉ vì dung mạo bên ngoài, ông đã gửi nỗi lòng mình vào bài Vịnh ấy một cách thâm trầm mà sâu sắc. Hoàng đế Trung Hoa đặc biệt cảm phục văn tài ấy và sắc phong ông là “Lưỡng quốc Trạng nguyên.”
Lần khác, khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho Công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất.”
Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu, khiến người tham dự cùng các phi tần, công chúa của vua Nguyên xúc động đến rơi lệ:
Thanh thiên nhất đóa vân,
Hồng lô nhất điểm tuyết,
Thượng uyển nhất chi hoa,
Dao trì nhất phiến nguyệt.
Y! Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết
(Một đám mây giữa trời xanh,
Một bông tuyết trong lò lửa hồng,
Một cành hoa nơi vườn thượng uyển,
Một vầng trăng ở chốn Dao Trì.
Than ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết!)
Giữa chốn triều nghi nghiêm cẩn, giữa những cuộc đối đáp cân não của ngoại giao, Mạc Đĩnh Chi đã mang linh hồn thơ ca vào những cuộc đối đáp ấy. Ông không phô diễn tài năng, mà dùng những xúc cảm riêng tư để nói thay thân phận con người – khi được trọng dụng, khi bị lãng quên; khi rực rỡ như trăng sáng, khi mong manh như bông tuyết giữa lò lửa hồng.
Có lẽ vì thế, dẫu lịch sử gọi ông là một nhà ngoại giao lỗi lạc, thì trong sâu thẳm, Mạc Đĩnh Chi vẫn là một thi sĩ. Một thi sĩ không danh xưng, nhưng để lại cho đời những rung động lặng lẽ mà bền bỉ – như đóa sen âm thầm nở trong giếng ngọc, soi bóng mình qua bao lớp bụi thời gian.
Nguyệt Quỳnh



