Vấn đề giải tỏa hai bên sông Hồng

Phối cảnh dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Ảnh: Hà Nội Mới
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Lý Thái Hùng

Một thành phố lớn luôn phải thay đổi và không có đô thị nào có thể đứng yên trước áp lực dân số, giao thông, môi trường, nhà ở, không gian công cộng và nhu cầu phát triển kinh tế. Sông Hồng, trong nhiều thập niên, gần như bị đặt ở phía sau lưng đô thị. Tuy là dòng sông lớn, nhưng thiếu trục cảnh quan xứng đáng; có không gian ven sông nhưng nhiều nơi phát triển tự phát; có cộng đồng dân cư lâu đời nhưng hạ tầng yếu, môi trường sống chật chội và rủi ro lũ lụt. Vì vậy, việc chỉnh trang hai bên sông Hồng, biến dòng sông thành trục cảnh quan đô thị của thời đại công nghệ, về nguyên tắc, là một nhu cầu chính đáng.

Theo thông tin đã công bố, thành phố Hà Nội chính thức đặt tên dự án là: Dự án đầu tư xây dựng Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng trên địa bàn thành phố Hà Nội.” Đây là dự án quy mô rất lớn, khoảng 11.418 ha, đi qua 16 xã, phường, với tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 736.963 tỷ đồng (non 30 tỷ USD) và được thực hiện từ năm 2026 đến 2038. Dự án dự kiến ảnh hưởng tới khoảng 70.474 hộ dân, tương đương 247.431 người; Hà Nội nói sẽ chuẩn bị khoảng 79.000–85.000 căn hộ hoặc lô đất tái định cư theo nguyên tắc “bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.” 

Những con số ấy cho thấy đây không phải là một dự án hạ tầng thông thường. Đây là một cuộc tái cấu trúc không gian sống của hàng trăm nghìn con người. Vì vậy, nếu được làm đúng, nó có thể là một bước ngoặt đô thị. Nhưng nếu làm sai, nó có thể trở thành một bi kịch của Thủ Thiêm mới ở quy mô còn lớn hơn.

Từ đô thị thế kỷ 20 đến đô thị thế kỷ 21

Trong thế kỷ 20, nhiều thành phố châu Á đã phát triển bằng phương pháp mạnh tay: Đập bỏ, di dời, xây mới. Thượng Hải, Seoul, Tokyo, Singapore, Bangkok, Kuala Lumpur đều từng có những giai đoạn tái thiết đô thị dựa trên giải tỏa lớn. Đó là thời kỳ mà nhà nước phát triển theo quan niệm tốc độ, hạ tầng và hình ảnh hiện đại là ưu tiên tuyệt đối. Những khu dân cư cũ, xóm ven sông, chợ dân sinh, làng ven đô và các cộng đồng đã bám rễ lâu đời thường bị xem là lạc hậu và cần bị thay thế.

Nhưng tư duy đô thị hiện đại ngày nay đã thay đổi. Một thành phố tốt không chỉ là thành phố có đại lộ rộng, cao ốc mới, trung tâm thương mại rực ánh đèn và công viên cảnh quan đẹp trên phối cảnh. Một thành phố tốt còn phải biết giữ lại ký ức, bảo tồn cộng đồng, duy trì sinh kế, tôn trọng lịch sử và tạo ra không gian sống có phẩm giá cho người dân hiện hữu. Ngày nay, chỉnh trang đô thị không còn đồng nghĩa với xóa trắng. Nó phải là một tiến trình chọn lọc để giữ lại những gì đáng giữ, tu bổ những gì có thể tu bổ, nâng cấp hạ tầng nơi cần nâng cấp, chỉ phá bỏ những phần thật sự nguy hiểm, xuống cấp hoặc không còn phù hợp.

Nói cách khác, đô thị thế kỷ 21 không nên phát triển bằng lối “dọn sạch mặt bằng” như thể coi người dân chỉ là những chấm nhỏ trên bản đồ quy hoạch. Đô thị thế kỷ 21 phải phát triển bằng nguyên tắc tái thiết có nhân bản như hạ tầng mới phải đi cùng quyền sống mới; cảnh quan mới phải đi cùng cộng đồng được bảo vệ; đất đai tăng giá phải đi cùng công bằng xã hội; và quy hoạch phải được xây dựng trên đối thoại chứ không phải mệnh lệnh.

Chính ở điểm này, tranh cãi quanh dự án sông Hồng trở nên rất đáng lo.

Vì sao người dân phản đối phương án 2?

Điều khiến người dân phản đối mạnh nhất hiện nay, đó là cái gọi là “phương án 2” của dự án mà Thành phố Hà Nội đưa ra vào ngày 19 tháng 5, 2026. Nhiều ý kiến cho rằng phương án này có thể giải tỏa khoảng 2.100 ha, di dời hàng trăm nghìn dân, phá bỏ khu dân cư hiện hữu để xây tổ hợp thương mại, chung cư, đại lộ và các không gian đô thị mới. Người dân cho rằng cách làm ấy tước đoạt môi trường sống và sinh kế của họ. Trong khi đó, “phương án 1,” tức làm đường bám sát mép sông, kết hợp cải tạo, chỉnh trang tại chỗ các khu dân cư hiện hữu, được nhiều người ủng hộ hơn vì vừa có cảnh quan đẹp, vừa giảm xáo trộn đời sống. 

Đây là điểm mấu chốt. Người dân không nhất thiết chống chỉnh trang sông Hồng. Nhưng họ chống cách chỉnh trang có nguy cơ biến thành xóa trắng. Họ chống việc bị đưa ra khỏi nơi mình đã sống nhiều đời mà chưa được thuyết phục rằng nơi ở mới, sinh kế mới, trường học mới, chợ búa mới, quan hệ cộng đồng mới sẽ tốt hơn nơi cũ.

Một dự án chỉnh trang đúng nghĩa phải bắt đầu từ câu hỏi rằng người dân hiện hữu sẽ sống tốt hơn như thế nào? Nhưng nhiều dự án ở Việt Nam thường bắt đầu từ câu hỏi khác là đất này sau quy hoạch sẽ khai thác được bao nhiêu? Chính sự đảo ngược ưu tiên ấy tạo ra bất tín. Khi người dân nhìn thấy nguy cơ khu nhà của họ bị phá để nhường chỗ cho chung cư thương mại, đại lộ đẹp và đất vàng ven sông, họ có quyền nghi ngờ rằng ai thật sự hưởng lợi từ dự án này?

Nếu những câu hỏi ấy chưa có câu trả lời rõ ràng, thì việc phản đối không phải là “chống phát triển,” mà đó là phản ứng tự vệ chính đáng của những người đang đứng trước nguy cơ mất nhà, mất sinh kế, mất cộng đồng và mất cả ký ức sống của mình.

Mập mờ quy hoạch là nguồn gốc của bất ổn

Một dự án đô thị lớn cần ba thứ: Tầm nhìn, minh bạch và đồng thuận xã hội. Nếu thiếu tầm nhìn, dự án trở thành chắp vá. Nếu thiếu minh bạch, dự án trở thành nghi ngờ. Nếu thiếu đồng thuận, dự án trở thành cưỡng chế.

Điều đáng lo trong dự án sông Hồng là người dân cảm thấy quy hoạch đang thay đổi từ phương án “chỉnh trang” ít xáo trộn hơn sang phương án “đập phá” nhằm cải tạo triệt để hơn, nhưng quá trình giải thích, tham vấn và bảo đảm quyền lợi cho người bị di dời thì chưa đủ rõ. Khi một phương án có khả năng ảnh hưởng đến hơn 70.000 hộ dân, việc công khai vài bản vẽ phối cảnh hay vài lời hứa tái định cư thì không thể coi đó là tham vấn đầy đủ. Tham vấn thật sự phải là một tiến trình hai chiều, trong đó người dân có quyền hiểu, quyền chất vấn, quyền phản biện, quyền đề xuất phương án thay thế và quyền biết rõ quyền lợi pháp lý của mình.

Trong một xã hội thiếu cơ chế giám sát độc lập, quy hoạch đô thị rất dễ trở thành công cụ tái phân phối đất đai từ người dân sang các nhóm lợi ích. Đất ven sông trước khi quy hoạch có thể bị xem là khu dân cư chật chội, tự phát, kém giá trị. Nhưng sau khi có đại lộ, công viên, kè sông, hạ tầng, khu thương mại và cao ốc, nó lập tức trở thành đất vàng. Câu hỏi là phần giá trị tăng thêm ấy thuộc về ai? Người dân bị di dời có được chia sẻ một phần giá trị đó không, hay chỉ nhận bồi thường thấp rồi rời đi? Nhà nước có dùng giá trị đất đai để tạo công ích thật sự, hay để mở đường cho bất động sản thương mại?

Đó là lý do người dân không an lòng. Bởi vì không ai muốn rời bỏ nơi ở của mình chỉ dựa trên những lời hứa chung chung, nhất là trong một đất nước đã có quá nhiều bài học đau đớn về thu hồi đất, đền bù thấp, tái định cư xa, sinh kế đứt đoạn, khiếu kiện kéo dài và cuối cùng người dân mất đất còn nhà đầu tư được lợi.

Học gì từ bi kịch Thủ Thiêm

Nhắc đến bi kịch “Thủ Thiêm” không phải là để so sánh máy móc hai dự án, vì cả hai rất khác nhau về địa lý, quy mô, lịch sử và cấu trúc đô thị. Nhưng bi kịch của những dự án kiểu Thủ Thiêm không khởi đầu ở ngày cưỡng chế, mà bắt đầu từ lúc quyền được biết, quyền được hỏi và quyền được tham gia của người dân bị xem nhẹ. Khi lằn ranh quy hoạch không minh bạch, thông tin bị giữ trong tay chính quyền và nhà đầu tư, thì những cuộc tham vấn hay lắng nghe ý kiến người dân, trong thực tế chỉ là để hợp thức hóa một quyết định đã có sẵn. Khi đền bù không công bằng, tái định cư không bảo đảm đời sống, thì phát triển đô thị không còn là tái thiết mà nó trở thành một cuộc chuyển dịch quyền lợi: Người dân mất không gian sống, còn đất đai sau quy hoạch trở thành nguồn lợi cho những nhóm có quyền tiếp cận dự án. Trong mắt các nạn nhân, đây là một cuộc ăn cướp trắng trợn và có giấy phép

Vì vậy, nguy cơ tái phạm không nằm ở chỗ dự án sông Hồng có giống Thủ Thiêm từng chi tiết hay không, mà nằm ở phương pháp. Khi đối thoại chưa đủ, sinh kế chưa bảo đảm, bồi thường chưa công bằng mà bộ máy đã vội giải tỏa và quy chụp người dân phản đối, thì Thủ Thiêm sẽ không còn là quá khứ, mà nó sẽ trở thành một cảnh báo đang lặp lại.

Trong thế kỷ 21, một thành phố đáng sống không thể chỉ được đo bằng đường sá rộng bao nhiêu, nhà cao tầng cao đến đâu, hay trung tâm thương mại đèn sáng như thế nào. Thành phố còn là ký ức, nghề nghiệp, đình chùa, chợ búa, bến nước, ngõ xóm, quan hệ cộng đồng, sinh hoạt văn hóa, tiếng nói địa phương và cách người dân sống cùng dòng sông.

Hai bên sông Hồng không phải là một tờ giấy trắng để có thể tùy tiện xóa đi rồi vẽ lại từ đầu. Đó là một không gian đã tích tụ nhiều lớp đời sống Hà Nội: Dân cư ngoài đê, làng ven sông, bãi bồi, nghề buôn bán nhỏ, nông nghiệp ven đô, chợ dân sinh, đền miếu, ký ức lũ lụt, ký ức mưu sinh và sự bền bỉ của những cộng đồng nghèo đã gắn bó với dòng sông qua nhiều thế hệ.

Người ta yêu Hà Nội không chỉ vì một thành phố đang hiện đại hóa, mà còn vì Hà Nội biết giữ lại những gì làm nên hồn cốt của mình. Một Hà Nội đáng sống phải là nơi cái mới được xây lên mà không xóa sạch cái cũ; nơi hiện đại hóa không đồng nghĩa với đánh mất ký ức, văn hóa và những cộng đồng đã làm nên chiều sâu của thành phố.

Nếu xóa trắng những không gian ấy để dựng lên các khu đô thị vô danh, Hà Nội có thể có một mặt tiền sáng bóng hơn, nhưng sẽ mất đi một phần linh hồn. Những gì thuộc về văn hóa, di tích, cấu trúc làng xóm, sinh hoạt cộng đồng nếu bị phá một lần thì không thể tìm lại. Một công viên mới có thể xây trong vài năm; một cộng đồng sống với dòng sông qua nhiều thế hệ thì không thể tái tạo bằng bản vẽ quy hoạch.

Do đó, chỉnh trang đúng phải dựa trên nguyên tắc phân loại. Khu nào nguy hiểm về lũ lụt, môi trường, sạt lở, không thể bảo đảm an toàn thì cần di dời, nhưng phải di dời nhân bản và công bằng. Khu nào có thể chỉnh trang tại chỗ thì nên giữ dân, nâng hạ tầng, cải thiện nhà ở, mở lối tiếp cận sông, làm công viên nhỏ, xử lý nước thải, tạo không gian công cộng. Khu nào có di tích, ký ức văn hóa, cấu trúc làng ven sông thì phải bảo tồn như một phần của bản sắc Hà Nội. Khu nào thật sự cần xây mới thì phải chứng minh lợi ích công cộng lớn hơn chi phí xã hội.

Tóm lại, việc chỉnh trang sông Hồng là cần thiết. Hà Nội không thể mãi mãi quay lưng với dòng sông lớn nhất của mình; nhưng chỉnh trang không được biến thành xóa trắng hết mọi thứ. Phát triển không thể đồng nghĩa với việc đẩy người dân ra khỏi nơi họ sống, rồi trao lại đất ven sông cho những dự án thương mại xa lạ với ký ức Hà Nội.

Nếu chính quyền chọn phương án minh bạch, đối thoại, chỉnh trang tại chỗ, di dời tối thiểu, bồi thường công bằng và tái định cư nhân bản, dự án sông Hồng có thể trở thành một biểu tượng mới của Hà Nội thế kỷ 21. Nhưng nếu chính quyền chọn con đường áp đặt, mập mờ, giải tỏa trắng và dùng cưỡng chế để thay thế đồng thuận, thì dự án này sẽ không phải là một cuộc tái thiết đô thị. Nó sẽ là một cuộc bức bách xã hội và phá hủy linh hồn Hà Nội.

Một chính quyền văn minh cần ứng xử văn minh: Ưu tiên phục vụ người dân và tôn trọng ý kiến của họ; biết lắng nghe và có giải pháp lợi ích, công bằng; biết bảo vệ những giá trị tinh thần, tâm lý và văn hóa mà không để bị thao túng bởi những lợi ích kinh doanh của một nhóm đặc quyền hay giàu có.   

Lý Thái Hùng
3/6/2026

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Cảnh tượng này cho thấy dự án sân golf và khu dân cư cao cấp mang thương hiệu "Trump International, Hưng Yên" đã dẫn đến sự phá hủy một nghĩa trang nông thôn. Ảnh: Financial Times

Dân làng Hưng Yên phải di dời phần mộ cha ông để giao đất cho dự án sân golf mang thương hiệu “Trump Organization, Hưng Yên”*

Một dự án mang tính biểu trưng chính trị cần tối kỵ việc đánh đổi quyền lợi hợp pháp của người dân địa phương để chạy theo những cam kết ngoại giao thiếu minh bạch.

Nếu nút thắt đất đai tại Châu Ninh [Hưng Yên] không được xử lý thấu đáo, toàn bộ công trình sẽ đối mặt với một cuộc khủng hoảng danh tiếng nghiêm trọng khi bị nhìn nhận như một bằng chứng tiêu cực về việc người nông dân và mồ mả tổ tiên của họ phải gánh chịu hi sinh để làm bệ đỡ cho một thương hiệu ngoại quốc.

Theo luật lệ hiện hành, tái định cư phải có trước khi thu hồi đất. Ảnh: FB Cộng Đồng Ven Sông Hồng

Tái định cư phải có trước khi thu hồi đất: Luật cứng quy định thế nào?

Bà con vùng dự án Đại lộ Cảnh quan Sông Hồng đang xôn xao trước thông tin: Liên danh nhà đầu tư (Đại Quang Minh – THACO – Hòa Phát) đề xuất hoàn tất giải phóng mặt bằng đất công và đất nông nghiệp trong 4 tháng (xong trước 20/9/2026).

Nhiều người lo lắng: “Đất ở của dân sắp tới tính sao? 3 khu tái định cư tại Long Biên, Lĩnh Nam, Thư Lâm hiện mới nằm trên giấy, chưa xây xong thì dân biết ở đâu? Không lẽ ôm 2,5 triệu đồng/tháng tiền hỗ trợ tạm cư đi lang thang thuê nhà vài ba năm?”

3 câu hỏi vàng nằm lòng cho cư dân bị ảnh hưởng bởi dự án Đại lộ cảnh quan sông Hồng. Ảnh: FB Cộng Đồng Ven Sông Hồng

Đất sông Hồng: Cán bộ đến nhà, đừng vội ký – Hỏi ngay 3 câu hỏi vàng này!

Khi có đoàn cán bộ dự án hoặc đại diện chủ đầu tư đến nhà làm việc về quy hoạch sông Hồng, đừng vội ký, đừng vội đồng ý, đừng vội phản đối. Bình tĩnh, lịch sự và đặt 3 câu hỏi sau trước mọi việc khác.

Ba câu hỏi này ngắn, ôn hòa, nhưng có sức nặng pháp lý – vì chúng ép cán bộ phải trả lời theo luật, không thể trả lời chung chung.

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!