Việt Nam đang thiếu hay dư giáo sư?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ngày 2 Tháng 2 vừa qua, Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước công bố danh sách ứng viên đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư năm 2017. Trong danh sách này có 1.226 người đạt tiêu chuẩn, gấp 1,7 lần năm 2016 và 2,3 lần năm 2015. Trong đó có 85 người đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư (GS), 1.141 người đạt phó giáo sư (PGS). Lập tức có nhiều nguồn bình luận trái chiều cho rằng bằng cấp tại Việt Nam vô giá trị và lượng GS, PGS nhiều như… lợn con.

Trong một bài trả lời trên báo, GS Trần Văn Nhung, Tổng Thư ký Hội đồng Chức danh GS nhà nước đã bác bỏ nhận định này, và cho rằng tỉ lệ GS của VN còn thấp hơn so với nhiều nước trên thế giới. Trích dẫn vài con số thì Trung Quốc có gần 4 GS hoặc PGS trên 10.000 dân và 0,2 GS hoặc PGS trên 100 sinh viên, gấp 10 lần Việt Nam, tại Đức, nước này có 3 GS trên 10.000 dân và 1,7 GS trên 100 sinh viên. Năm 2015, nước Áo có 0,62 GS trên 100 sinh viên. Nói tóm lại là số GS ở Việt Nam vẫn còn ít so với các nước tiên tiến.

Việc so sánh này có phần thiếu chính xác. Ở hầu hết các nước tiên tiến thì việc “phong” cho ai là GS hay bất kỳ chức năng nào trong trường đều do cơ sở đó quyết định chứ không do nhà nước như ở VN, và điều này dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực.

Đây là điều mà nhiều GS nổi tiếng như Hoàng Tụy và Ngô Bảo Châu đều nhận thấy. Theo GS Châu thì “Ở ta, GS là một chức danh danh dự được nhà nước phong. Người được phong nhận được sự tôn trọng của xã hội nhưng ngược lại không có quyền hạn, nhiệm vụ nào rõ ràng với chức danh đó”. Và chính vì do Trường bổ nhiệm nên ở nước ngoài, họ chỉ căn cứ vào khả năng người thầy và nhu cầu nhà trường nên số lượng GS của họ cao hơn. Ở ta, căn cứ vào các phát biểu của cơ quan chức năng thì trở thành GS “cực kỳ khó”. Tuy nhiên, việc “chất lượng ứng viên đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm nay được tăng lên” không đồng nghĩa là đó là những tinh hoa của nền giáo dục, vì theo GS Châu, đó chỉ là chức danh được sự tôn trọng của xã hội. Nói toẹt ra là… vô bổ.

Chắc mọi người còn nhớ cách đây vài năm có đề nghị khắc tên các sinh viên mới có bằng tiến sĩ vào bia Quốc Tử Giám. Cũng may là ý tưởng điên rồ này đã bị phê phán nặng nề, nhưng điều này cũng cho thấy nhiều cái đầu khoa bảng đến mức bệnh hoạn vẫn còn tồn tại ở VN.

Tôi thì có suy nghĩ hơi khác. Vấn đề không nằm ở chất lượng hay số lượng nhưng ở chỗ những vị GS này có đóng góp gì cho giáo dục nói riêng và xã hội nói chung mới là điều quan trọng.

Trở lại việc phong hàm vừa qua. Nếu phải xin (được phong) thì sẽ có cho hoặc không. Trong 10 năm làm việc tại ĐH Bách Khoa Sàigòn, tôi quả thực ngán ngẩm với các thủ tục, các giấy tờ để nộp vào các chức danh GS, PGS. Tôi nghĩ phải đến vài trăm ký chứ không chơi.

Các ứng viên có lẽ phải bỏ một thời gian rất lâu để hoàn tất các thủ tục thì chẳng hiểu đầu óc và thời gian cho công việc của mình là giảng dạy và nghiên cứu. Tôi không nhớ đã đọc ở đâu nói rằng nếu Einstein có tái sinh và nộp đơn ở VN thì cũng sẽ bị loại.

Một khía cạnh khác, Hội đồng chức danh có căn cứ vào các yếu tố chính trị để quyết định hay không? Tôi không rõ, nhưng chắc chắn là những ứng viên có các suy nghĩ, nhận định hoặc hành vi “lề trái”, cổ súy cho dân chủ, nhân quyền… chắc chắn sẽ bị loại ngoài vòng giữ xe.

Và đó là điều tôi muốn bàn nhân chuyện phong hàm này là với thủ tục xin-cho trong một cơ chế chính trị hóa giáo dục như ở VN thì các GS có giỏi đến đâu đi chăng nữa cũng chỉ đào tạo ra một tầng lớp khoa bảng nhưng phi nhân bản, chỉ biết phục vụ cho quyền lợi cá nhân và “mũ ni che tai” trước mọi việc xảy ra chung quanh.

JPEG - 106.2 kb
Buổi lễ trao giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư và Phó giáo sư trước đây. Ảnh: http://vinhuni.edu.vn

Việc này ai cũng có thể thấy, từ việc tăng giá xăng, việc chốt các BOT khắp nơi, việc an toàn vệ sinh, việc tàn phá môi trường… chả có ai dám lên tiếng, đặc biệt là giới trí thức – phải gọi là giới khoa bảng mới đúng – nói gì đến chuyện chính trị, bảo vệ lãnh thổ hoặc nhân quyền.

Nhiều người lập luận rằng không nên lẫn lộn chính trị với học đường! Thế thì hãy điểm qua vài điều trong Luật giáo dục ngày 14-06-2005.

“Điều 2: Mục tiêu giáo dục: Đào tạo con người VN phát triển toàn diện, có đạo đức (…) trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

“Điều 3: Nền giáo dục VN là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”.

“Điều 27: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất… hình thành nhân cách con người VN xã hội chủ nghĩa…”.

“Điều 40: Nội dung giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản… và các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…”. Tóm lại, trong bộ Luật giáo dục, sặc một mầu chính trị.

Tôi không chủ trương đả kích cá nhân, nhưng nếu đã có một trình độ nhất định mà nói rằng “giáo dục phi chính trị” thì quả thật các nhà giáo này đã tự đặt mình ra ngoài thời sự và nhịp thở sức sống của xã hội. Cũng nên nhắc lại cho mọi người rằng Chu Văn An được tôn vinh là “người thầy của muôn đời” không chỉ vì ông là một nhà giáo tài năng, đã có những đóng góp lớn lao cho sự nghiệp giáo dục Việt Nam mà còn vì ông đã nêu tấm gương sáng về đạo làm người trong đó Thất trảm sớ là một minh chứng rõ ràng nhất. Và Thất trảm sớ là một hành động chính trị.

Vấn đề của giáo dục VN ngày nay là tập hợp của muôn vàn khó khăn và là những câu hỏi không có lời giải. Những người quan tâm thì không khỏi lo lắng vì thấy trước mặt mình cả một “núi vấn đề”, đó là bệnh thành tích, học giả bằng thật, ngồi nhầm lớp, bệnh giả dối, bạo lực học đường, sự tụt hậu… và còn biết bao nhiêu cái “núi” khác. Động đến cái nào cũng thấy bất khả thi. Có viết về một trong những đề tài này chắc cũng tốn nhiều giấy mực.

Hồi còn ở trong nước và sinh hoạt chung với các thầy cô trong Hội Giáo chức Chu Văn An, anh chị em chúng tôi thỉnh thoảng trao đổi về các vấn nạn của giáo dục VN, và mười lần như một, câu kết luận của chúng tôi là: “Vấn đề thì ai cũng biết cả, lời giải ai cũng biết cả. Đó là chỉ chi đất nước có dân chủ thì mọi bài toán sẽ có lời giải. Những gì chúng ta bàn ở đây chỉ là nói cho vui”. Cay đắng thật.

Trở lại vấn đề phong hàm, nếu xem các lời bình trên báo chính thống thì mới thấy đại đa số người dân vẫn đánh giá thấp, thậm chí rất thấp bằng cấp VN nói riêng và cả hệ thống giáo dục nói chung. Không phủ nhận rằng đất nước không hiếm những tài năng nhưng tại sao chúng ta ngày nay lại “ngày càng thua Lào và Campuchia về mọi mặt”. Đây là kết luận dựa theo những số liệu Ngân hàng thế giới – World Bank và Diễn đàn kinh tế Thế giới – WEF đưa ra cách đây gần 1 năm. Và theo như một kỹ nghệ gia Việt Nam tuyên bố cách đây 3 năm thì “chúng ta đã lỡ cơ hội vào Top 3 của ASEAN và chỉ còn nước nán lại chạy đua với châu Phi…”.

Và nếu chúng ta còn tiếp tục lầm lũi đi theo cơ chế và suy nghĩ độc tôn như hiện tại thì có lẽ sắp tới chúng ta sẽ chẳng còn tìm ai ra để chạy đua.

Phạm Minh Hoàng
(2/2018)

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”