Việt Nam hậu ý thức hệ: Con đường thực tế để hàn gắn và phát triển

Ngoại thành Hà Nội những ngày trước đại hội XIV ĐCSVN. Ảnh: Lao Động Thủ Đô
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Tạ Dzu

Sau nhiều thập niên xung đột, chia rẽ và thử nghiệm tư tưởng, Việt Nam đang đứng trước một câu hỏi không thể né tránh: Đất nước có cần tiếp tục đi theo chủ thuyết xã hội không thực tế kiểu cộng sản dù chỉ làm bình phong, hay cần một hệ thống vận hành được?

Lịch sử hiện đại cho thấy, phần lớn những bi kịch của Việt Nam không bắt nguồn từ việc thiếu lý tưởng, mà từ việc quá tin vào một lý tưởng duy nhất, đến mức đặt chủ thuyết cao hơn con người và đời sống cụ thể. Khi một học thuyết được trao đặc quyền không thể chất vấn, sớm muộn cũng sẽ biến thành công cụ áp đặt, dù khởi đầu bằng những lời hứa tốt đẹp.

Chính vì vậy, đã đến lúc cần một cách tiếp cận khác hậu ý thức hệ.

Hậu ý thức hệ không phải là vô nguyên tắc

Hậu ý thức hệ không có nghĩa là phủ nhận toàn bộ giá trị của chủ nghĩa Duy Vật; trái lại, hành trình mới này cần khởi đi từ một nhận thức chín chắn hơn: Không có học thuyết nào đủ toàn tri nếu không đặt trên toàn bộ đời sống con người (nghiêng hẳn về duy vật hay duy tâm), và không có quyền lực nào đủ trong sạch để không cần kiểm soát.

Một xã hội trưởng thành không được xây dựng trên niềm tin rằng “đảng luôn đúng” dưới sự soi đường của Mác-Lê, mà trên cơ chế bảo đảm rằng khi sai, sai lầm đó không thể kéo dài và không thể gây tổn hại hàng loạt.

Dù nhân danh cách mạng, dân tộc, ổn định hay đạo đức, quyền lực luôn có xu hướng tự mở rộng. Vì thế, nghi ngờ quyền lực bị lạm dụng không phải là chống đối, mà là trách nhiệm của công dân.

Một nhà nước hiện đại không tồn tại để chứng minh mình đúng về tư tưởng hay áp chế khác biệt tư tưởng, mà để giải quyết những vấn đề rất cụ thể của xã hội: An sinh, công bằng, cơ hội sống tử tế, phẩm giá con người…

Ở đâu quyền lực không bị chi phối bởi pháp luật, ở đó mọi lời kêu gọi hòa giải đều chỉ mang tính biểu tượng, chót lưỡi đầu môi.

Pháp trị là điều kiện của hàn gắn, không phải vật cản

Hàn gắn dân tộc không thể xây dựng trên ngăn chặn ý kiến đa chiều (im lặng chịu đựng của nhân dân), hay áp đặt ý chí một chiều của đảng. Hòa giải chỉ có thể hình thành khi sự thật được thừa nhận, và khi mọi công dân không phân biệt quá khứ, vị trí hay công lao, đều bình đẳng trước pháp luật.

Không có pháp trị, mọi thiện chí đều mong manh. Không có cơ chế kiểm soát quyền lực, mọi lời hứa đều dễ bị phản bội.

Không cần thay thế quyền lực ngay, nhưng phải chia nhỏ quyền lực

Một sai lầm phổ biến khi cho rằng ổn định chỉ có thể đạt được bằng sự tập trung quyền lực. Thực tế cho thấy điều ngược lại: Quyền lực càng tập trung, rủi ro sụp đổ càng lớn.

Việt Nam không nhất thiết phải thay đổi mọi thứ trong một đêm, nhưng bắt buộc phải tiến tới những điều mà nhiều người đã đề cập: Một nền tư pháp độc lập, một cơ quan lập pháp thực quyền, một nền báo chí có không gian điều tra, và một xã hội dân sự ôn hòa không bị coi là mối đe dọa. Các nền dân chủ ổn định đều đi theo hướng này, Việt Nam không cần phải lăn tăn suy nghĩ, mà cần tìm giải pháp thực hiện ổn thỏa với sự đóng góp thực chất của mọi thành phần dân tộc.

Đa nguyên tư tưởng không làm xã hội yếu đi; đàn áp khác biệt mới là nguồn gốc của bất ổn lâu dài.

Kinh tế tự do là nền móng, không cần “định hướng xã hội chủ nghĩa”

Chúng ta không thể đòi hỏi con người sống tử tế trong nghèo đói và bất an; cũng như không thể giảng dạy nhân bản khi người dân lệ thuộc toàn diện vào quyền lực hành chính.

Tự do kinh tế với luật lệ rõ ràng, ổn định và công bằng, không chỉ tạo ra của cải mà còn trao cho con người khả năng lựa chọn, là điều kiện tiên quyết của tinh thần tự do.

Nhà nước không nên làm doanh nghiệp, và không nên để doanh nghiệp thao túng nhà nước. Khi quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế hòa làm một, tham nhũng sẽ trở thành cấu trúc, thành hệ thống chứ không còn là hiện tượng cá biệt nữa.

Văn hóa Việt và giá trị chung của nhân loại là nền tảng đạo lý

Bản sắc, truyền thống, triết lý Việt Nam là nguồn lực tinh thần quý giá thay thế chủ nghĩa xã hội thiếu sót kiểu cộng sản, nhưng cần khôn khéo định chế hóa để đưa sắc thái văn hóa vào đời sống hàng ngày của nhân dân, nâng cao cách cư xử nhân văn với nhau. Luật pháp cần dựa trên đời sống, đạo lý Việt, song hành cùng những giá trị chung của nhân loại như tự do tư tưởng, tôn trọng quyền con người, bảo vệ nhân phẩm… Có như thế, văn hóa mới có thể đóng vai trò nhân bản hóa quyền lực giúp nhà nước ổn định xã hội, và luật pháp là để bảo vệ chứ không phải công cụ kiểm soát hay áp chế nhân dân.

Một xã hội lành mạnh là xã hội biết đặt văn hóa dân tộc với ứng xử nhân văn vào mục đích quản trị, không xem “văn hóa cướp chính quyền” mặc định cho ngai vàng hay quyền lực chính trị.

Mục tiêu tối hậu: Một đời sống đáng sống cho số đông

Quốc gia không tồn tại để tạo ra những biểu tượng vĩ đại, mà để bảo đảm rằng đại đa số người dân có thể sống an toàn, có phẩm giá, và không sợ hãi quyền lực tùy tiện của nhà cầm quyền.

Một xã hội thành công không cần quá nhiều anh hùng, mà bởi hệ thống luật pháp nghiêm minh “không vùng cấm,” đủ công bằng thì cũng đã giúp những con người bình thường sống tử tế với nhau rồi.

Kết luận

Việt Nam không cần tiếp tục tin theo một học thuyết thiếu sót xa xôi, hay ngay cả dùng làm bình phong để rồi lại mò mẫm tìm đường đi.

Việt Nam cần một hệ thống khiến cái sai không thể kéo dài, quyền lực không thể vô hạn, và con người không bị hy sinh cho bất kỳ ý thức hệ nào.

Đó chính là tinh thần của Việt Nam hậu ý thức hệ: Không vô nguyên tắc, nhưng đặt con người làm nguồn gốc xây dựng cho mọi nguyên tắc. Đấy chính là con đường hàn gắn để phát triển ổn định nhất mà mọi khuynh hướng có thể dễ dàng chấp nhận.

Tạ Dzu
Xuân Bính Ngọ 2026 (4905 tuổi Việt)

Nguồn: Tạp chí Thế Kỷ Mới

 

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”