Việt Nam vẫn chưa với tới đất hiếm

Đất hiếm khai thác ở Úc. Trên khắp thế giới, các công ty khai thác đất hiếm của Úc đang đạt được các thỏa thuận kinh doanh lớn. Ảnh: amtil.com.au
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Vai trò quan trọng của đất hiếm

Đất hiếm, một trong những khoáng sản quan trọng là nguyên liệu thô không thể thiếu của các ngành công nghệ cao, từ vũ khí quốc phòng đến các sản phẩm công nghệ như chip. Do đó, nó còn được gọi là “vitamin công nghệ” của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Sự quan tâm của các quốc gia đối với tài nguyên đất hiếm đã được nâng từ vấn đề kinh tế thành mối quan ngại an ninh quan trọng. Quá trình xử lý đất hiếm thường liên quan đến việc sử dụng dung môi, có thể tạo ra chất thải độc hại gây ô nhiễm đất, nước và khí quyển. Các công nghệ thân thiện với môi trường hơn đang được phát triển, nhưng chúng vẫn chưa được sử dụng rộng rãi.

Về phân bổ, khoáng sản đất hiếm toàn cầu có cơ cấu đa dạng, trong đó Trung Quốc là quốc gia có trữ lượng đất hiếm phong phú, chủng loại nguyên tố đầy đủ và lượng cung ứng sản phẩm đất hiếm lớn nhất thế giới. Những năm gần đây, Mỹ và các nước phương Tây đang tìm cách định hình lại chuỗi sản xuất đất hiếm mà không có ảnh hưởng của Trung Quốc thông qua việc xây dựng các liên minh mang tính chống lại sự ảnh hưởng và đe dọa.

Trung Quốc hiện kiểm soát khoảng 70% hoạt động khai thác đất hiếm, 90% công đoạn phân tách và chế biến, cùng hơn 93% sản lượng nam châm trên thế giới. Sự kiểm soát gần như tuyệt đối này đã tạo ra thế bí địa chiến lược có khả năng siết chặt mạch sống của các ngành công nghiệp tiên tiến – từ xe điện và động cơ máy bay đến thiết bị quân sự.

Ngay cả những khoáng sản được khai thác tại các quốc gia đồng minh cũng thường phải trải qua một hành trình vòng vèo trước khi được tinh luyện tại các nhà máy của Trung Quốc, khiến nỗ lực đạt được sự tự chủ thực sự trong chuỗi cung ứng trở nên ngày càng khó khăn. Chẳng hạn, trong tổng lượng antimony được sử dụng tại Mỹ, chỉ 19% có nguồn gốc ngoài phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc, trong khi bản thân Bắc Kinh cung cấp tới 60% thị trường antimony toàn cầu và chế biến gần một phần ba lượng nguyên liệu tinh chế trên thế giới.

Trong những thập kỷ qua, Mỹ đã tận hưởng ưu thế chiến lược nhờ vào đổi mới công nghệ và sức mạnh quân sự. Tuy nhiên, lợi thế đó đang bị đe dọa bởi thực tế khó chấp nhận rằng năng lực sản xuất các công cụ chiến tranh hiện đại của Mỹ phụ thuộc sâu sắc vào đất hiếm của Trung Quốc. 7 loại khoáng sản này – samari, gadolinium, thorium, dysprosium, ruthenium, scandium và yttrium – chính là nền tảng của các hệ thống vũ khí hiệu suất cao, bao gồm máy bay chiến đấu, mạng lưới radar, hệ thống dẫn đường tên lửa và các chất bán dẫn ngày càng tinh vi – yếu tố cốt lõi trong chiến tranh hiện đại.

Các hệ thống vũ khí của Mỹ phụ thuộc rất lớn vào thị trường đất hiếm của Trung Quốc. Báo cáo gần đây của Govini, mang tên “Từ đá đến tên lửa: Các khoáng sản thiết yếu và cuộc chiến thương mại vì an ninh quốc gia,” đã phơi bày mức độ tổn thương này: Có tới 80.006 linh kiện trên 1.908 nền tảng vũ khí của Mỹ phụ thuộc vào các khoáng sản do Trung Quốc kiểm soát. Với 91,6 % hệ thống của mình bị ảnh hưởng, Hải quân Mỹ đã cho thấy mức độ phụ thuộc của cơ sở hạ tầng quốc phòng nước này.

Vai trò của Việt Nam

Kể từ khi Donald Trump bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống thứ hai, cho dù là sự thèm muốn của Mỹ đối với tài nguyên đất hiếm của Greenland hay việc ép Ukraine ký kết hiệp định về khoáng sản quan trọng, các quốc gia sở hữu tài nguyên dường như luôn phải rơi vào tình thế bị động trong cuộc đọ sức nước lớn về chuỗi cung ứng.

Là quốc gia có trữ lượng đất hiếm lớn trên toàn cầu, Việt Nam được các nước phương Tây coi là vùng đệm chiến lược để đối trọng với thị trường đất hiếm của Trung Quốc. Do thiếu công nghệ, Việt Nam dễ bị phụ thuộc về kỹ thuật, nên dễ rơi vào tình thế phải chọn bên.

Từ năm 2019, Mỹ nhiều năm liền trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, trong khi Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất. Mô hình phát triển kinh tế định hướng xuất khẩu của Việt Nam, cùng với nhu cầu cơ cấu đa dạng hóa quan hệ kinh tế-thương mại đối ngoại đã cùng nhau thúc đẩy chiến lược ngoại giao kinh tế đa phương hóa, trở thành biện pháp quan trọng để duy trì tính linh hoạt trong quá trình phát triển của đất nước và mở rộng không gian chiến lược bên ngoài.

Tại Việt Nam, ước tính trữ lượng đất hiếm đạt khoảng 22 triệu tấn (chiếm hơn 18% trữ lượng đất hiếm thế giới), đứng thứ hai thế giới (chỉ sau Trung Quốc với 44 triệu tấn) và chiếm hơn 36% trữ lượng đất hiếm thế giới.

Những năm gần đây, việc làm thế nào để thực hiện bước nhảy vọt về công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi từ nơi gia công sản xuất thành nơi tiếp nhận công nghệ trong quá trình dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu do cuộc cạnh tranh nước lớn gây ra đã trở thành mối quan tâm chính của Chính phủ Việt Nam và trở thành vấn đề cốt lõi trong công tác ngoại giao kinh tế. Việc tăng cường hợp tác khoa học công nghệ với các quốc gia dẫn đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã trở thành hướng đi quan trọng trong công tác ngoại giao kinh tế của Việt Nam.

Việt Nam đang dựa vào ngoại giao kinh tế để nắm bắt cơ hội phát triển, từ các kế hoạch hành động mà Việt Nam đã ban hành trong lĩnh vực công nghệ cao cũng như hiệu quả từ việc các công ty công nghệ cao như Nvidia, Samsung lần lượt thành lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam, có thể thấy ngành bán dẫn và sản xuất điện tử có giá trị gia tăng kinh tế cao là phương hướng trọng tâm của Hà Nội. Trong đó, tài nguyên đất hiếm – nguyên liệu thô quan trọng của ngành công nghiệp bán dẫn – cũng được Việt Nam coi là cân nhắc chiến lược của ngoại giao kinh tế, tạo thành điểm tựa quan trọng để Hà Nội nâng cao vị thế và năng lực đàm phán trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Mặc dù đã đầu tư nhiều cho nghiên cứu đất hiếm, nhưng cho đến hôm nay Việt Nam vẫn chưa khai thác và chế biến sâu được đất hiếm. Một nguyên nhân chính yếu là do Việt Nam chưa có khả năng sản xuất các thiết bị và công nghệ khai thác, chế biến đất hiếm. Chỉ có một số ít quốc gia có công nghệ chế biến sâu đất hiếm, nhưng lại giữ bản quyền, bí mật và không chuyển giao công nghệ như: Trung Quốc, Mỹ, Australia… Thêm nữa, đầu tư cho khoa học công nghệ vào lĩnh vực này tại Việt Nam chưa đủ và không tập trung; lĩnh vực ứng dụng đất hiếm chưa tìm được vị trí xứng đáng trong nền kinh tế hiện nay của Việt Nam.

Nguyễn Công Bằng

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…