Việt Nam vi phạm nhân quyền

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Việt Nam vi phạm nhân quyền ngày càng trầm trọng đối với quyền làm người đã được qui định ở Tuyên ngôn nhân quyền Liên Hợp Quốc vào ngày 10-12- 1948, một sự vi pham toàn diện ở các mặt đời sống chính tri. Nhưng trong bài viết này tôi chỉ đề cập ở một số vi phạm quyền tối thiểu hàng ngày nhưng quan trọng, nó cản trở sự phát triển cá nhân, xã hội và quốc gia dân tộc.

Với tư cách là người hoạt động nhân quyền ở Việt Nam tôi đối chiếu thực tế trong luật Việt Nam và thực tế hành xử của các cơ quan chính quyền đối với tuyên ngôn nhân quyền Liên hợp quốc thì thấy:

1- “Ai cũng có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hùn hiệp với người khác. Không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán” – trích điều 17 Tuyên Ngôn Nhân Quyền Liên Hợp Quốc. Như vậy ở điều 17 này đã nói lên quyền được sở hữu về tài sản, mà đã sở hữu thì họ có quyền tư hữu- [làm của riêng mình], có quyền sử dụng [để khai thác vào mục đích cá nhân], có quyền định đoạt tài sản [cho biếu tặng…].

Vậy đất đai là một loại tài sản đặc biệt của mỗi cá nhân và mỗi cá nhân có quyền sở hữu, nhưng trên thực tế ở Việt Nam thì đất đai lại qui định về quyền sở hữu nhà nước. Như vậy nhà nước đã tước đoạt quyền sở hữu của người dân về loại tài sản đặc biệt này một cách cố ý. Đi ngược lại với điều 17 nêu trên.

Mặt khác khi nhà nước thu hồi quyền sử dụng đất thì lại vi phạm về quyền định đoạt tài sản cá nhân. Đất là một tài sản vì thế có thể nói hộ gia đình là một chủ thể kinh tế, doanh nghiệp cũng là một chủ thể kinh tế và khi hai chủ thể này mua bán với nhau thì phải theo giá thị trường và được trực tiếp thỏa thuận với nhau về giá, nhà nước chỉ làm nhiệm vụ xác nhận mua bán này. Thế nhưng ở Việt Nam thì nhà nước lại trực tiếp can thiệp vào giao dịch ấy, trong quá trình can thiệp nghiêng về chủ thể kinh tế doanh nghiệp mà không quan tâm đến chủ thể kinh tế gia đình [chủ sở hữu đất].

Có thể nói là nhà nước bảo vệ lợi ích doanh nghiệp mà bỏ qua lợi ích của người dân lao động là chủ sở hữu mảnh đất nhỏ bé để trồng lúa trồng rau sống qua ngày, qua đời, người nông dân đã bị bỏ rơi. Tình trạng vi phạm này đang phổ biến ở Việt Nam và việc này đã đẩy nhiều người lao động không đất đai, không tài sản họ sẽ bị đói nghèo cùng cực. Biểu hiện của nó thể hiện ở những người dân đi khiếu kiện và đã có rất nhiều người đã phải chết vì đòi quyền lợi chính đáng này.

2- “Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua việc giảng dạy, hành đạo thờ phụng và nghi lễ hoạc riêng mình với người khác, tại nơi công cộng hay nhà riêng”. Điều 18 trích Tuyên Ngôn Nhân Quyền Liên Hợp Quốc.

Trên thực tế ở Việt Nam thì quyền này thường xuyên bị ngăn cản, một số tôn giáo còn bị cấm và phân biệt đối xử của nhà nước với các tôn giáo.

Đạo Tin Lành ở Tây Nguyên [Tin lành Đềga] thì bị ngăn cản và những tín đồ không được xây nhà thờ không được tập trung cầu nguyện vì thế mà nhiều người dân chỉ thực hiện tín ngưỡng ở nhà và vụng trộm. Tin Lành Tây bắc cũng vậy, những người theo tin lành thì đều bị cho là kẻ xấu, những người truyền đạo thì có thể bị bắt.

Cư xử của nhà nước giữa Phật giáo Việt Nam thống nhất miền Nam không được quan tâm như Phật giáo miền bắc, giữa Phật giáo với Thiên chúa giáo và với các tôn giáo khác như Cao Đài – Hòa Hảo thì chính sách khác nhau. Biểu hiện của nó là những vụ ngăn cản của chính quyền với Thiên Chúa Giáo [Thái Hà, nhà Chung ……] ở Hà Nội, miền trung, miền nam., Tây Nguyên… Những tín đồ rất khó hành đạo và bị kiểm soát gắt gao.

3 – “Ai cũng có quyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm cả quyền không bị ai can thiệp vì những quan niện của mình và quyền tìm kiếm, tiếp nhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia”.

Trích điều 19 Tuyên Ngôn Nhân Quyền Liên Hợp Quốc. Ở đây ta thấy điều này thuộc về tự do ngôn luận, chính kiến, bày tỏ thái độ quan điểm cá nhân trước một vấn đề quốc gia mà không bị ai can thiệp bắt bớ, mọi người có quyền nhận và truyền thông tin chia sẻ với người khác bằng tất cả những phương tiện gì mình có thể thì đều phải được tôn trọng.

Thực tế Việt Nam đã đi ngược lại điều 19 Tuyên Ngôn bằng điều 88 của bộ luật hình sự Việt Nam “Làm ra, tàng trữ, tán phát tài liệu….” thì bị buộc tội chống nhà nước. Ai phát biểu quan điểm cá nhân cũng bị cho vào tội tuyên truyền, phỉ báng chính quyền… trả lời báo chí về thái độ chính trị … cũng bị buộc vào tội Chống nhà nước…vân vân…., bị nhà nước bắt bỏ tù. Ở điều này nhà nước Việt Nam tìm mọi cách để bịt miệng những ai nói lên sự thật, tiếng nói khác với quan điểm nhà nước. Thực tế đã diễn ra nhiều vụ án về tội danh này.

Trên đây tôi chỉ nêu ra ba ví dụ để minh chứng cho thấy luật Việt Nam đã vi phạm nhân quyền, vi phạm vào Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Công Ước Quốc Tế Về Quyền Dân Sự và Chính Trị mà Việt Nam đã ký kết thừa nhận, tôn trọng, thực thi. Nhưng trên thực tế thì đi ngược lại, mà đôi khi hành xử trên thực địa của những người thi hành luật đi ngược với luật và luật đi ngược với hiến pháp do chính Việt Nam làm ra nó.

Ví dụ : Trong hiến pháp 1992 điều 69 qui định “công dân có quyền tự do ngôn luận………” thế nhưng điều 88 Bộ luật hình sự thì lại phạt tù những người thực hiện theo hiến pháp. Về nguyên tắc, luật hình sự là luật con, hiến pháp là luật mẹ [gốc], luật con mà đi ngược lại luật mẹ thì đều không có giá trị. Nhưng vì bảo vệ chế độ chính trị mà họ tạo ra điều 88 và điều 79 để xét xử buộc tội những ai có ý công kích chế độ, phản đối chế độ, cạnh tranh với chế độ cộng sản.

Việc những năm gần đây Việt Nam gia tăng bắt giữ những người có quan điểm và thái độ không đồng tình với nhà nước về cách điều hành đất nước, quản lý lãnh đạo, để tình trạng tham nhũng, đói nghèo, ngày càng gia tăng, đất nước thụt lùi so với xu thế phát triển chung của nhân loại. Những hành động bắt giữ này đã vi phạm nghiêm trọng về quyền căn bản của con người mà tổ chức Liên Hợp Quốc đã qui định, xác nhận tôn trọng và yêu cầu thực thi trong thực tế. Các tổ chức nhân quyền trên thế giới cũng đã lên án nhiều lần Việt Nam vi phạm nhân quyền, nhưng Việt Nam vẫn không thay đổi hay cải thiện về vấn đề nhân quyền. Tổ Chức Nhân Quyền Liên Hợp Quốc cần có một biện pháp rất dứt khoát và triệt để đối với tình hình vi phạm nhân quyền ở Việt Nam thì tình hình mới có thể thay đổi.

Phạm Văn Trội
20/11/2012

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”