Vợ của những người tù

Ảnh: FB Nguyễn Thúy Hạnh. Từ trái: Vợ các TNLT Lưu Văn Vịnh, Lê Đình Lượng và Trần Đức Thạch hẹn đến nhà nhau để cùng gọi cho tôi từ Nghệ An, trong niềm vui vỡ oà khi tôi vừa được ra tù
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Họ không phải là những người vợ đi tù, mà là vợ của những người tù vì đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền. Tôi muốn viết về họ hàng ngày chứ không phải chỉ mồng 8/3, hay là 20/10. Tôi muốn viết về họ với tất cả tình thương, sự cảm thông và niềm trân trọng.

Nếu như những người chồng của họ là những vị anh hùng thời bình, thì họ cũng chính là những người anh hùng đứng sau những người chồng của họ. Một phần nghị lực và bản lĩnh của chồng họ là từ họ.

“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm từng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?”
[Chinh Phụ Ngâm, Đặng Trần Côn]

“Trải vách quế gió vàng hiu hắt
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng
Oán chi những khách tiêu phòng
Mà xui phận bạc nằm trong má đào.

Đêm năm canh lần nương vách quế
Cái buồn này ai để giết nhau
Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu
Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa!”
[Cung Oán Ngâm Khúc, Nguyễn Gia Thiều]

Nếu như Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán Ngâm Khúc khi xưa nói về nỗi cô đơn, lẻ loi, đơn chiếc, sầu thương, nhung nhớ, khát khao đoàn tụ, oán trách hoàn cảnh…, của những người chinh phụ chốn cô phòng, thì vợ của những người tù vì đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền ngày nay không chỉ những nỗi niềm ấy mà còn là sự vật lộn với cuộc mưu sinh để nuôi cha mẹ già, con cái ăn học, và nuôi chồng tù, còn cả đấu tranh cho chồng, bền bỉ đội đơn đi kêu oan cho chồng, đối phó với áp lực từ phía công an, chính quyền. Họ thậm chí không còn thời gian và tâm trí để mà cô đơn, để mà sầu thảm nữa.

Có những người cũng vác biểu ngữ xuống đường đấu tranh cùng với những đồng đội của chồng. Họ còn gắn kết lại với nhau thành từng nhóm vợ tù để động viên an ủi, chia sẻ, giúp đỡ nhau những lúc khó khăn hay buồn tủi.

Tôi luôn muốn được là chỗ tâm tình của những người vợ tù, nên tôi được nghe rất nhiều chuyện về họ, càng thương họ hơn. Có những lúc nửa đêm tôi nhận được cuộc điện thoại của họ, giọng thảng thốt: “Chị ơi!” Tôi biết đó là lúc họ bị stress bởi áp lực cuộc sống và sự cô đơn dằng dặc của án tù mười lăm, hai mươi năm của chồng. Có người nói chuyện với tôi cho tới sáng, khi cơn stress dịu xuống. Mỗi khi có cuộc gọi nhỡ tôi luôn dành gọi lại đầu tiên cho những người vợ tù.

Họ xuôi ngược Bắc Nam thăm nuôi chồng không biết mệt mỏi. Họ say sưa nấu đồ ăn gửi cho chồng, gửi luôn tất cả niềm thương yêu trong đó. Họ dù vất vả nhưng mỗi lần đi thăm chồng vẫn chú ý ăn mặc tươm tất và trang điểm chút ít cho chồng vui. Mỗi khi thăm chồng về họ thường hay gọi cho tôi tâm sự nỗi niềm, tôi cũng vui buồn theo họ.

Có chị vì quá thương chồng mà muốn vận động cho chồng đi định cư, còn mình thì ở lại với con cái: “Thôi, chị mong sang đó có ai thương anh mà chấp nhận lấy và chăm sóc cho anh thì tốt quá.” “Chị không ghen ư?” “Có chứ, nhưng còn hơn là anh ở tù. Mười mấy năm thì anh chết trong tù mất.” Chị xót xa. (Nhưng rồi anh cũng chẳng được đi).

Lại có chị, chồng chót say nắng khi ở ngoài, nhưng vẫn một lòng tin yêu chồng, ngược Nam ra Bắc thăm nuôi chồng tháng tháng, sắt son chung thuỷ đợi chờ, không hé một lời trách móc, oán thán.

Đấy là những người vợ. Còn những người yêu của những người tù thì còn thiệt thòi hơn nữa. Họ âm thầm chờ đợi trong lặng lẽ, không được thăm gặp, không được chia sẻ tâm tình, không được hỏi han quan tâm, không ai biết đến họ, họ thầm lặng hy sinh cả tuổi trẻ để chờ một người tù.

Vậy mà họ vẫn chờ, mười lăm, mười sáu năm, như bạn gái của một tù nhân lương tâm (TNLT) vừa mới ra tù; bạn gái của một người tù trong vụ Đặng Hoàng Thiện; hay bạn gái của một người tù trong nhóm Vịnh Lưu, là mấy người mà tôi được nghe tâm sự. Và còn những người khác nữa mà tôi không biết.

Đã nhiều lần tôi muốn viết về họ, nhưng rồi cứ chần chừ mãi, vì tôi biết sự hy sinh và nỗi truân chuyên của họ không thể chỉ kể ra trong khuôn khổ mấy dòng chữ đơn điệu này. Nhưng hôm nay thôi thúc trong tôi những tình cảm về họ, tôi quyết định viết ra dù biết rằng chỉ có thể nói lên được một phần những hy sinh và tình cảm đáng quý của họ. Đối với tôi, họ chính là những người anh hùng!

Nguồn: FB Nguyễn Thúy Hạnh

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”