Có một chi tiết đặc biệt quan trọng mà bất kỳ cuộc điều tra nghiêm túc nào cũng không thể bỏ qua: Ông Nguyễn Đức Thuận và Trần Hiệp đã mua vé máy bay trở về Bangkok.
Theo thông tin từ gia đình được CALD*) công bố, hai ông bay từ Bangkok đến Phnom Penh ngày 15/9 để gặp gỡ các nhà hoạt động nhân quyền. Cả hai vẫn giữ liên lạc thường xuyên với gia đình cho tới ngày 18/9. Hai người cũng đã mua vé trở lại Bangkok lúc 10 giờ 30 sáng ngày 19/9 trên chuyến Cambodia Airways KR701. CALD cho biết hồ sơ hãng hàng không xác nhận hai người không lên chuyến bay này.
Hãng tin ABC Australia còn ghi nhận một chi tiết rất cụ thể: Bà Chloe Dang, vợ ông Trần Hiệp, đang chờ chồng tại Bangkok vào thời điểm lẽ ra ông Hiệp phải có mặt để cùng bà bay trở về Úc. Ông không xuất hiện. Ngay sau đó bà trình cáo về việc chồng mất tích tại Campuchia và liên lạc với các viên chức lãnh sự Úc.
Hơn mười ngày sau, đêm muộn của ngày 28/9/2026, Bộ Công an tuyên bố rằng lúc 21 giờ 50 ngày 18/9, Đồn Biên phòng cửa khẩu Mỹ Quý Tây, Tây Ninh đã “bắt quả tang” ba người đang nhập cảnh trái phép từ Campuchia, và khởi tố họ với các cáo buộc “khủng bố” và làm giả tài liệu. Những cáo buộc nghiêm trọng như vậy nhưng không kèm theo bất kỳ chứng cứ nào, không đáp ứng được tiêu chuẩn pháp lý tối thiểu về tính khách quan và chân thật.
Nếu quả thực tồn tại một kế hoạch khủng bố, những câu hỏi hiển nhiên phải là:
– Mục tiêu là gì?
– Kế hoạch cụ thể ra sao?
– Thời gian thực hiện khi nào?
– Ai chỉ đạo?
– Phương tiện thực hiện là gì?
– Có vũ khí hay chất nổ nào bị thu giữ không?
Và bởi Bộ Công an khẳng định là “bắt quả tang” thì lại càng dễ dàng xuất video CCTV mà bất kỳ cửa khẩu nào cũng có ngay và luôn.
Có bằng chứng độc lập và khả tín nào xác nhận hành trình di chuyển từ đất Campuchia đến biên giới Tây Ninh của Việt Nam không?
Thực ra hỏi nhiều như vậy cũng không chỉ là để cho người còn lương tri và nhận thức, chứ nếu đã bịt mắt nhắm tai trước sự thật thì lại quá vô nghĩa.
Trường hợp nhà hoạt động Nguyễn Đức Thuận và Trần Hiệp càng cần được điều tra độc lập khi đặt cạnh một số tiền lệ trước đây không lâu.
Đơn cử, năm 2017, Trịnh Xuân Thanh biến mất khi đang ở Berlin. Sau đó, truyền thông nhà nước Việt Nam đưa tin ông đã “đầu thú.” Tuy nhiên, Chính phủ Đức tuyên bố có “clear evidence” – bằng chứng rõ ràng – rằng ông Thanh đã bị bắt cóc trên lãnh thổ Đức, gọi hành động này là sự vi phạm trắng trợn luật pháp Đức và luật pháp quốc tế. Đức sau đó trục xuất một viên chức tình báo thuộc đại sứ quán Việt Nam và tiến hành điều tra hình sự vụ việc.
Tháng 1/2019, nhà báo Trương Duy Nhất đến Thái Lan và nộp hồ sơ xin quy chế tị nạn với UNHCR (Cao ủy Tị nạn LHQ)). Chỉ một ngày sau, ông mất tích tại Bangkok. Human Rights Watch cho biết ông bị các quan chức Việt Nam bắt cóc với sự hỗ trợ từ phía Thái Lan; sau đó ông xuất hiện trong nhà tù của Việt Nam và bị xét xử, kết án 10 năm tù!
Ông Đường Văn Thái là tiền lệ đặc biệt đáng chú ý của câu chuyện “nhập cảnh trái phép.” Đường Văn Thái là người tị nạn được UNHCR công nhận, đang sống tại Thái Lan. Ông mất tích ngày 13/4/2023. Human Rights Watch cho biết đã xem video cho thấy một người đàn ông la hét bị cưỡng ép kéo lên xe; ví, thẻ UNHCR, thẻ ngân hàng, laptop và nhiều vật dụng quan trọng của ông vẫn để lại tại nhà. Thế nhưng ba ngày sau, phía Việt Nam nói ông Thái bị bắt khi “nhập cảnh trái phép” vào Việt Nam. Sau đó ông bị truy tố theo Điều 117 và năm 2024 bị kết án 12 năm tù!
Những tiền lệ đó không tự động chứng minh điều gì đã xảy ra với hai ông Nguyễn Đức Thuận và Trần Hiệp. Nhưng nó khiến lời giải thích “tự nhập cảnh trái phép” trong vụ việc hiện nay cần được kiểm chứng bằng chứng cứ độc lập, thay vì được mặc nhiên chấp nhận.
Nếu hai người thực sự tự nguyện bỏ kế hoạch trở lại Bangkok để vượt biên vào Việt Nam, hãy công bố những bằng chứng khách quan chứng minh hành trình ấy. Nếu không, bằng cách nào hai nhà hoạt động đang ở Campuchia, có kế hoạch cụ thể rõ ràng để trở về Bangkok vào sáng hôm sau, lại xuất hiện trong tay cơ quan an ninh Việt Nam chỉ vài giờ sau khi gia đình mất liên lạc với họ?
Chính các dư luận viên khi bình luận trên các thông tin chính thức của chính phủ Việt Nam cũng thừa nhận thực tế là ai vào đồn công an thì cũng đều “mềm như bún ngay” để mô tả về cái gọi là “nghiệp vụ điều tra” của an ninh Việt Nam. Vậy nên những cái gọi là lời khai thực ra cũng rất “khai.” Một lời khai muốn có sức thuyết phục độc lập phải được xem xét cùng hoàn cảnh mà nó được đưa ra. Các đương sự đã có luật sư chưa? Công dân Australia và Na Uy đã được gặp đại diện lãnh sự chưa?
Báo giới Australia và Na Uy đều cho biết chính phủ hai nước này có nỗ lực để bảo hộ công dân nhưng quyền cho gặp đương sự thì lại nằm trong tay của Bộ Công an. Cũng trên báo giới Australia và Na Uy thì hai nước này không quy Việt Tân là một tổ chức khủng bố dù phía Việt nam xếp Việt Tân vào danh sách các “tổ chức khủng bố.”
Chẳng hạn, Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia (DFAT) từng ghi nhận Việt Tân hoạt động hợp pháp tại Australia và không nằm trong danh sách tổ chức khủng bố của Australia như cáo buộc của Việt Nam. Na Uy cũng tương tự công nhận các hoạt động ôn hoà của các đảng viên Việt Tân tại nước họ. Cả hai nhà hoạt động Trần Hiệp và Nguyễn Đức Thuận đều có nhiều tiếp xúc với các cấp chính giới của hai nước.
Còn riêng về cái khoản “gắp lửa bỏ tay người” thì là nghề của cộng sản. Họ nói khi bị bắt có giấy tờ căn cước giả này kia thì có gì khó. Nếu muốn họ có thể in cho hàng ngàn thẻ căn cước thật. Thậm chí, mấy cái gọi là nghiệp vụ thực chất chỉ là hành vi nguỵ tạo bằng chứng.
Tôi từ khi thanh niên đã nghe đến chuyện về cái gọi là “đánh án” của họ. Chẳng hạn, để bắt giam Linh mục Trần Đình Thủ, Bộ Công an còn ném vũ khí vào để làm bằng chứng và triệt hạ Dòng Đồng Công năm 1987. Và kết quả, như lời của Bộ Công an là lực lượng của công an đã “vượt tường đột nhập vào nhà thờ, bắt 90 đối tượng phản động, trong đó có 07 linh mục, 42 tu sĩ, 31 đối tượng cốt cán trong hội đoàn, 03 tên côn đồ hung hãn. Khám xét trụ sở dòng Đồng Công, lực lượng Công an thu được 23 loại vũ khí.” Để rồi sau đó, ở phiên toà sơ thẩm toà tuyên án chung thân và ở phiên phúc thẩm thì giảm xuống còn 20 năm đối với Linh mục Trần Đình Thủ. Thực chất đó là họ tự dựng lên và tự “đánh án” để chiến lợi phẩm là hơn 70 tấn gạo và 164 lượng vàng, tịch biên đất đai, cơ sở hoạt động, và bỏ tù gần cả trăm tu sĩ lẫn giáo dân.
Chuyện xưa cứ nghĩ là đã qua, nhưng ngày nay thế lực của sự dữ càng lộng hành hơn, tinh vi và ma quái hơn. Trong vụ bắt giữ hai ông Thuận và ông Hiệp, cho đến nay nhà cầm quyền chưa hề chứng minh được những cáo buộc nghiêm trọng đối với hai đương sự. Ngược lại, người nhà của hai ông thì lại cho thấy cả hai nhà hoạt động đã có kế hoạch trở về lại Bangkok.
Tương tự, đảng Việt Tân khẳng định các thành viên này không hề có ý định đi vào Việt Nam. Sau khi bắt cóc ông Nguyễn Đức Thuận (một công dân Na Uy) và ông Trần Hiệp (một công dân Úc) nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đưa ra cáo buộc rằng những người này đã “nhập cảnh trái phép vào Việt Nam từ biên giới Campuchia.” Đây là một vu cáo trắng trợn, nhằm che đậy việc các thành viên của Việt Tân bị bắt cóc tại Campuchia và bị cưỡng ép đưa về Việt Nam.
Việc một nhà nước tổ chức bắt cóc và cưỡng ép đưa người ở nước ngoài về lãnh thổ của mình là một hành vi đàn áp xuyên quốc gia (transnational repression) nghiêm trọng, xâm phạm chủ quyền của Campuchia và vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.
FB Minh Nhật
* CALD: Council for Asian Liberals and Democrats – Hội đồng các chính đảng Tự do và Dân chủ Á châu
The post Họ có kế hoạch trờ về Bangkok nhưng đã bị bắt cóc sang Việt Nam appeared first on Việt Tân.





