Câu hỏi lớn của ông Nguyễn Phú Trọng

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Báo chí đang khai thác câu hỏi mà ông Nguyễn Phú Trọng nêu ra trong bài diễn văn khai mạc hội nghị 5 vừa qua. Câu hỏi đó là: “vì sao những hạn chế, yếu kém đã được chỉ ra từ lâu, nhưng qua nhiều nhiệm kỳ đến nay tình hình vẫn chậm chuyển biến, thậm chí có mặt còn trầm trọng hơn?”

Trong câu hỏi này, có hai vế quan trọng:

Vế thứ nhất là lãnh đạo đảng CSVN đã tìm ra nguyên nhân dẫn đến các yếu kém, các hạn chế trong nhiều lãnh vực của doanh nghiệp nhà nước.

Vế thứ hai là lãnh đạo cũng đưa ra nhiều nghị quyết qua các nhiệm kỳ nhưng trên thực tế nền kinh tế Việt Nam nói chung, hoạt động các doanh nghiệp nói riêng không có hiệu quả. Nói cách khác đang trở thành một gánh nặng cho quốc gia.

JPEG - 48.8 kb
Ông Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Trung ương 5 Khóa XII. Ảnh: VietnamPlus

Trong hai vế này, vế thứ nhất là dễ tìm nhất vì nó nằm ngay trong bản chất của doanh nghiệp nhà nước. Đó là những người lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước không có khả năng kinh doanh. Họ được đưa vào lãnh đạo các doanh nghiệp như là những cán bộ hành chánh, cất nhắc theo sự đề bạt chính trị chứ không theo khả năng quản trị kinh doanh. Tất nhiên việc bổ nhiệm như vậy làm sao kinh doanh có hiệu quả. Đó là chưa nói đến những thủ đoạn chính trị được sử dụng trong các báo cáo để được thăng quan tiến chức vào Trung ương đảng, Bộ chính trị.

Quan trọng và gay go nhất chính là vế thứ hai. Đó là đã tìm ra phương thuốc giải quyết, tức là công bố quá nhiều nghị quyết sửa đổi, uốn nắn nhưng con bệnh vẫn không phục hồi? Và đó cũng chính là câu hỏi lớn của ông Trọng.

Thứ nhất, Ban chấp hành trung ương đảng gồm 180 Ủy viên của Khóa XII là bộ phận quyết định về đường lối chính sách chung của đảng và nhà nước; nhưng có bao nhiêu người thực sự có khả năng hiểu rõ về hoạt động hiệu quả của một doanh nghiệp nhà nước, để mà đưa ra những chính sách, đường lối chính xác.

Tất cả mọi đề án về kinh tế thường mang màu sắc chính trị nhằm tuyên truyền về sự lãnh đạo của đảng hơn là mang lại những hiệu quả kinh tế thật sự. Ví dụ, việc thiết lập những Tập đoàn kinh tế được lãnh đạo đảng CSVN đưa ra vào năm 2005, hoàn toàn không dựa trên hiệu năng kinh tế của các tập đoàn này mà chỉ nhằm mục tiêu chính trị hóa khi tuyên truyền rằng đó là “cú đấm thép” để đẩy mạnh Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp hóa năm 2020, theo nghị quyết của Đại hội X.

Do mục tiêu chính trị nên lãnh đạo đã đổ hàng tỷ đồng hầu nhanh chóng biến những tập đoàn này từ con nhái biến thành con bò trong thời gian ngắn, và dùng hình ảnh đó chứng minh sự ưu việt của định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi những bụng con bò bùng vỡ đi đôi cùng sự sụp đổ hàng loạt các tập đoàn, lãnh đạo đảng và nhà nước không thừa nhận đó là những sai lầm trong việc hoạch định đường lối, mà lại quy trách nhiệm cho một số cán bộ phụ trách. Tức là đổ trách nhiệm lên một vài cán bộ thừa hành mà không coi đó là những sai lầm của Trung ương đảng và Bộ chính trị, cơ quan đã quyết định ra cái gọi là “quả đấm thép”.

Thứ hai, Ban chấp hành trung ương đảng đã coi doanh nghiệp nhà nước là thành phần chủ đạo nền kinh tế, nhưng dường như họ không thật sự hiểu thế nào là sự chủ đạo. Chủ đạo có nghĩa là cầm chịch và đóng vai trò xương sống để xây dựng một nền kinh tế hiệu quả. Trong khi đó, do lo sợ bị coi là chệch hướng xã hội chủ nghĩa, lãnh đạo đảng CSVN cố duy trì hệ thống quốc doanh nắm chặt mọi lãnh vực kinh tế. Từ đó mới đẻ ra hiện tượng là các bộ máy từ công an, quân đội, truyền thông, giáo dục cho đến các lãnh vực công nghiệp, nông nghiệp, du lịch,… đều lập ra những doanh nghiệp để cạnh tranh thương mại.

Hậu quả tất nhiên là đảng và nhà nước phải dành mọi dễ dài trong việc hỗ trợ và nuôi dưỡng các doanh nghiệp quốc doanh. Khi được dành những ưu thế như vậy, các doanh nghiệp sẽ phóng tay làm theo các nghị quyết và sẵn sàng thổi phồng thành quả để báo cáo… hầu tiếp tục được cung cấp tiền. Do đó khi coi doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí chủ đạo nền kinh tế, chẳng khác nào khuyến khích một tầng lớp quan tham, ngu dốt cấu kết nhau phung phí những tài nguyên quốc gia một cách vô tội vạ. Đây là hậu quả tai hại khi dùng cơ cấu kinh tế quốc doanh cho mục tiêu chứng minh nửa nạc nửa mỡ của cái gọi là “kinh tế thị trưởng theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Tóm lại, chính cơ chế độc tài đảng trị đã không chỉ biến các doanh nghiệp nhà nước thành những cỗ máy hành chánh để cất nhắc cán bộ theo phe nhóm mà còn là nơi làm giàu cho một số cán bộ lãnh đạo, gia đình thân nhân và các nhóm lợi ích bu quanh.

Khi doanh nghiệp làm ăn không có lời, thất thoát hay lỗ lã, thay vì phải giải tán hay chuyển đổi lề lối kinh doanh và truy tố những cán bộ lãnh đạo ra tòa, đảng và nhà nước lại tiếp tục đổ tiền vào nuôi và chỉ thay đổi cán bộ quản lý. Khi quyền lực kinh doanh ở các doanh nghiệp phó mặc cho các đảng bộ trách nhiệm, hậu quả tất nhiên là quyền lực tha hóa và bị lạm dụng.

Ngay cả việc ông Đinh La Thăng đã có những sai phạm ở Tập Đoàn Dầu Khí từ năm 2007 đến năm 2011, làm thiệt hại hàng ngàn tỷ đồng cho quốc gia, thế mà đến gần 10 năm sau mới phát hiện và đương sự chỉ bị cách chức Bộ chính trị, tiếp tục nằm trong Ban chấp hành Trung ương đảng và không có gì tiếu lâm hơn là được chuyển sang giữ chức Phó Ban kinh tế trung ương.

Trong một xã hội dân chủ và pháp trị, những sai phạm của ông Đinh La Thăng như vậy đã phải bị truy tố ra tòa và chịu trách nhiệm hình sự chứ không thể nhận “cảnh cáo” ở trong đảng rồi thôi.

Chính cách giải quyết của Ban chấp hành trung ương đảng CSVN đối với trường hợp ông Đinh La Thăng vừa qua, đã trả lời cho câu hỏi lớn của ông Nguyễn Phú Trọng là dù tìm ra nguyên nhân, nhưng cách giải quyết vẫn là “đánh bùn sang ao” nên đảng và nước CSVN sẽ tiếp tục trì trệ cho đến khi tan rã mà thôi.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…