Đường Lên “Thiên Quốc”

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Xin nói ngay rằng đã không có trường hợp “chuyển sang từ trần” nào cả trong thời gian qua. Ở đây chỉ ghi lại những chi tiết đáng lưu ý trong chuyến đi của thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đến Bắc Kinh tuần rồi, nơi xứ sở của những người tự xưng là “con trời”.

JPEG - 34.2 kb
Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo (trái) tiếp Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng ngày 22 tháng 10, 2008 (hình Reuters)

Sau cùng thì ông Dũng cũng đã đi sứ sang Tầu, công việc mà lẽ ra ông ta đã phải làm ngay từ khi nhậm chức thủ tướng vào mùa hè năm 2006. Trong 2 năm vừa qua, ông đã đi nhiều nơi, Nhật, Mỹ, Âu… và vừa rồi, đến Úc. Nhưng ông chưa một lần bệ kiến “Thiên triều”. Điều này khiến có người cho rằng ông thuộc phe theo Mỹ, nên không hạp với Tầu. Cũng có ý kiến khác nói rằng ông không được sự tin tưởng của người anh lớn phương bắc, nên họ chưa chịu tiếp ông. Sau cùng thì cả 2 bên đều đồng ý thu xếp việc gặp gỡ này một cách thích hợp nhất: trong dịp tham dự hội nghị ASEM 7 tổ chức ở Bắc Kinh, ông Dũng sẽ đến sớm vài ngày để được những nhà lãnh đạo Trung cộng tiếp kiến. Như vậy, Bắc Kinh hài lòng vì không phải nâng hình ảnh của CSVN lên ngang tầm với mình, mà Hà Nội cũng hể hả vì với cái thế đàn em của mình, họ không thể mong đợi nhiều hơn.

Đường lên phiá Bắc bao giờ cũng gian nan, tuy nhiên trong chuyến đi này, ông Dũng còn được đôi niềm an ủi. Bởi vì, ở Tầu, ông được ra vào vào bằng cửa chính, không phải chui lòn cửa hậu như trong những cuộc công du khác. Ngoài niềm vui này ra, chuyến đi của ông chỉ còn là những nỗi nhọc nhằn.

Nhọc nhằn đầu tiên vì lộ trình gian nan. Ông Dũng không được bay thẳng đến Bắc Kinh mà phải “nhập cảnh” qua một cửa ải ở phiá Nam. Ngày 21-10, ông đến tỉnh Hải Nam để tham dự “Diễn Đàn Doanh Nghiệp Việt Nam – Trung Quốc”. Tỉnh trưởng Hải Nam La Bảo Danh đã giới thiệu về tình hình xây dựng và phát triển của đặc khu kinh tế Hải Nam trong 20 năm qua. Tuy nhiên đây không phải là chủ đích chính. Việc buộc ông Dũng phải ghé qua Hải Nam trước khi đến Bắc Kinh nhằm giảm nhẹ hơn nữa tư thế của Nguyễn Tấn Dũng, đồng thời nhắc nhở ông Dũng 2 điều quan trọng:

– Thứ nhất, tỉnh Hải Nam có đơn vị hành chánh Tam Sa bao gồm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà Quốc vụ viện Trung Hoa đã ban hành quyết nghị thành lập vào đầu tháng 12 -2007.

– Thứ hai, tỉnh Hải Nam còn có căn cứ hải quân bí mật Tam Á, là nơi đồn trú của các tầu ngầm thuộc hạm đội Nam Hải của Trung cộng. Hạm đội này có khả năng khống chế biển Đông, và theo một kế hoạch đã bị tiết lộ, thì đây là lực lượng chủ lực trên biển trong một cuộc tấn công Việt Nam khi cần thiết.

Ngay sau đó, Nguyễn Tấn Dũng đã chứng kiến “lễ ký kết thoả thuận hợp tác giữa chính quyền nhân dân tỉnh Hải Nam và Bộ Công Thương Việt Nam”. Việc Trung cộng thực hiện lễ ký kết bất tương xứng về đẳng cấp như vậy, cho thấy họ vẫn luôn coi Việt Nam chỉ ngang hàng với một tỉnh, huyện của Trung cộng! Đây là thói hành xử ngạo mạn quen thuộc của Trung cộng đối với CSVN, mà Hà Nội vì đã quen với thân phận “chư hầu” ăn sâu vào não trạng nên phải cúi đầu chấp nhận.

Đến Bắc Kinh, Nguyễn Tấn Dũng được gặp gỡ thủ tướng Trung cộng Ôn Gia Bảo và chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Những nhà lãnh đạo Trung cộng trong dịp này đã buông ra những lời phát biểu đầy trịch thượng, được Tân Hoa Xã loan đi nhưng báo chí quốc doanh của Hà Nội không dám tường thuật một chữ nào, đại loại như: “Hai nước Trung – Việt phải nắm vững phương hướng đúng đắn phát triển quan hệ hai nước, tăng thêm sự tin cậy chiến lược”, và rồi: “mối quan hệ phải theo phương thức sớm giải quyết những bất đồng giữa hai bên… kịp thời trao đổi về vấn đề quan trọng trong quan hệ hai nước, xử lý ổn thoả vấn đề tồn tại trong quan hệ hai nước, hết sức giữ gìn đại cục hữu hảo Trung Việt”… Trước những lời huấn dụ của lãnh đạo Trung cộng, Nguyễn Tấn Dũng đã bầy tỏ tấm lòng quy phục của mình bằng cách nhắc lại 16 chữ vàng do Giang Trạch Dân đề ra xưa kia: “Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai”, cũng như “4 tốt” mà Hồ Cẩm Đào vừa thêm sau này: “Láng giềng tốt, Bạn bè tốt, Đồng chí tốt và Đối tác tốt.”

Nói chung, thái độ đớn hèn của Hà Nội trước Trung cộng đã được thể hiện rõ nhất qua lời phát biểu của Nguyễn Tấn Dũng như sau: “Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam trước sau như một luôn hết sức coi trọng, chân thành mong muốn tăng cường quan hệ hữu nghị với Trung quốc và sẽ làm hết sức mình để vun đắp cho quan hệ giữa hai Đảng, hai nước ngày càng phát triển vững chắc”. Vẫn là giọng điệu của cái thời nhận AK của Trung cộng để đem quân đi đánh miền Nam!

JPEG - 30.9 kb

Thông cáo chung sau đó cho biết, hai bên đã ký kết với nhau 8 văn kiện, trong đó có việc thành lập một đường giây điện thoại “nóng”. Với phương tiện vừa thiết lập, lãnh đạo Trung Nam Hải sẽ nắm vững tình hình Việt Nam hơn, đồng thời sẽ ban hành mệnh lệnh trực tiếp và nhanh chóng hơn đến những “đối tác” tại Hà Nội. Những vấn đề khác được đề cập đến trong bản thông cáo chung liên quan đến việc “phát triển mối quan hệ láng giềng hợp tác hữu nghị”, “tăng cường hợp tác kinh tế thương mại”, “triển khai quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”, “hoàn thành công tác phân giới trên bộ”, “thực hiện tốt Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ”, “gìn giữ hòa bình ổn định ở Biển Ðông”…

Nhưng đó chỉ là lớp sơn hào nhoáng bên ngoài. Thực tế là hoàn cảnh đau thương cho phiá Việt Nam.

Trước tiên là tình hình giao thương giữa 2 nước. Trung cộng là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam sau Hoa Kỳ. Trung cộng nhập 15%, so với Hoa Kỳ nhập 20% hàng hoá xuất cảng của Việt Nam. Tuy nhiên trong khi cán cân thương mại với Hoa Kỳ nghiêng về phiá Việt Nam, thì trong việc giao thương với Trung cộng, Việt Nam luôn bị thâm thủng nặng nề: năm 2006 là 3,8 tỷ đô la, năm 2007 lên đến 9 tỷ, và năm nay lên đến 13 tỷ đô la. Nếu gia tăng kim nghạch mậu dịch lên đến 25 tỷ đô la vào năm 2010 như Trung cộng vừa đòi hỏi, thì tất cả khối ngoại tệ dự trữ 20 tỷ đô la của Việt Nam chỉ vừa đủ để bù đắp cho khoản nhập siêu của Việt Nam. Ngoài ra chưa nói đến việc hàng lậu xâm nhập gây thiệt hại rất lớn cho Việt Nam về mặt thuế quan. Hay vấn đề phẩm chất độc hại của hàng hoá Trung cộng mà giới tiêu thụ Việt Nam phải gánh chịu.

Về vấn đề đất đai, lãnh hải, Việt Nam vẫn tiếp tục là phía bị thiệt thòi. Nhu cầu chiến lược về quốc phòng và kinh tế của Trung cộng là khống chế biển Đông và chiếm đoạt nguồn tài nguyên to lớn trong vùng biển này. Vì thế, trong những năm gần đây Bắc Kinh đã khai thác thế mạnh về quân sự và kinh tế để gia tăng áp lực trong các mối quan hệ với Hà Nội, đặc biệt về lãnh thổ, các hải đảo và biển Đông. Trung cộng liên tục lấn át Hà Nội theo kiểu “Cái gì của tôi là của tôi. Cái gì của anh mình xài chung”. Thoả thuận chung nói trên quy định cho Trung cộng được cùng tuần tra, cùng hợp tác đánh bắt hải sản, cùng thăm dò dầu và gas, cùng khai thác dầu hỏa… trong vịnh Bắc Bộ. Còn ngoài biển Đông là khu vực mà Trung cộng đang khống chế, thì Việt Nam phải “nỗ lực gìn giữ tình hình ổn định” cũng như “không được có hành động làm phức tạp hóa hoặc mở rộng thêm tranh chấp”.

Thoả thuận chung cũng bầy tỏ “sự hài lòng đối với việc hoàn thành công tác phân giới trên bộ”, tuy nhiên trên thực tế có nhiều điểm quan trọng về vấn đề này vẫn còn bị dấu diếm. Hà Nội vẫn luôn chống chế rằng sự mất mát là rất nhỏ căn cứ theo hiệp ước Pháp-Thanh. Phải chăng họ tối tăm đến độ không nhận ra rằng, chính hiệp ước đó đã gây thiệt hại lãnh thổ rất nhiều cho Việt Nam, vì chính quyền thực dân Pháp lúc đó đã đánh đổi đất đai của Việt Nam để được hưởng đặc quyền giao thương với Trung Hoa.

Đó là những gì mà Nguyễn Tấn Dũng đã thu lượm được trong chuyến đi Bắc Kinh vừa qua. Tất cả chỉ là những thoả thuận bất tương đồng. Trước những đe dọa đến từ cả trong lẫn ngoài, những người lãnh đạo CSVN luôn chọn lựa những giải pháp có mục tiêu bảo vệ quyền lợi cá nhân và củng cố chế độ độc tài, bất kể nó gây thiệt hại to lớn cho đất nước. Đối với một chính quyền như vậy, người dân Việt Nam khó có thể để số phận của đất nước nằm trong bàn tay của họ.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”

Ảnh minh họa

Tầng lớp trung lưu mới và bẫy thu nhập trung bình cao

Khảo sát bỏ túi gần đây của báo Thanh Niên về câu chuyện của anh Hoàng Việt – một nhân viên IT 40 tuổi tại TP.HCM – là một lát cắt vô cùng sống động phản ánh hành trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam suốt nhiều thập niên qua. Từ mức kỳ vọng ban đầu chỉ là một công việc ổn định với mức lương 15 – 20 triệu đồng/tháng, sau 13 năm, anh Việt đã có thể kiếm được gần 100 triệu đồng mỗi tháng nhờ sự năng động, làm thêm nghề tay trái và đầu tư vào đất đai, chứng khoán.