Khủng hoảng ngoại giao của Việt Nam với châu Âu lớn hay nhỏ?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Một năm sau vụ bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh tại Đức, một hội nghị của ngành ngoại giao Việt Nam lần thứ 30 được tổ chức tại Hà Nội. Hội nghị này không thấy đề cập đến những đổ vỡ ngọai giao giữa Việt Nam với Đức, Cộng hòa Séc, Slovakia, rồi có thể là tới đây với nước Pháp nữa, do các cơ quan ngoại giao Việt Nam tại các quốc gia này được cho là có liên quan đến vụ bắt cóc.

Nhận định về bài diễn văn dài hơn 6 trang giấy của ông Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị ngành ngoại giao lần thứ 30, Giáo sư Mạc Văn Trang từ Hà Nội nói với Đài Á châu tự do:

“Các nhà lãnh đạo Việt Nam xưa nay là thế, mà không phải chỉ Việt Nam mà cộng sản nói chung là thế, họ tuyên truyền một chiều, nói lấy được, nói lấy phải một mình, rồi khoe thành tích, thậm chí những thành tích không xứng đáng cũng khoe. Bao giờ cũng che đậy những khuyết điểm, những cái xấu của mình đi, mà nếu có đưa ra thì cũng là do nguyên nhân khách quan, do kẻ địch xúi giục, do âm mưu thù địch…”

Bài diễn văn ông Tổng Bí thư đặt ra câu hỏi rằng trong quan hệ với các nước lớn, có điểm “nghẽn” nào cần tháo gỡ, hoặc khâu “đột phá” nào cần mở ra, nhưng tuyệt nhiên không nhắc đến sự căng thẳng với các quốc gia châu Âu sau vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, mà nhà báo Lê Trung Khoa, người theo dõi câu chuyện ngay từ đầu, từ Berlin, nước Đức cho là một cuộc khủng hoảng lớn nhất của ngành ngoại giao của nhà nước cộng sản Việt Nam từ trước đến nay.

Tuy nhiên Giáo sư Vũ Tường, thuộc Bộ môn chính trị, Đại học Oregon, Hoa Kỳ lại không lượng định vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ở tầm mức lớn như vậy:

“Tôi không nghĩ là một khủng hoảng lớn nhất, nó chỉ là một cuộc khủng hoảng thôi. Chuyện vừa rồi cho thấy họ vẫn quen cách làm cũ như thời chiến tranh lạnh. Do đó họ gặp khủng hoảng. Thiệt hại đối với họ thì tôi nghĩ là họ nghĩ rằng không lớn, so với cái mà họ được.”

Theo ông Vũ Tường, khi nhà nước Việt Nam quyết định bắt cóc Trịnh Xuân Thanh trên đất Đức, họ nghĩ rằng họ có thể cứu chữa được những thiệt hại mà vụ bắt cóc này có thể sẽ gây ra. Ngoài ra ông cũng đồng ý rằng mục tiêu lớn của vụ bắt cóc là chuyện chính trị nội bộ, chuyện chống tham nhũng của đảng cầm quyền, có tầm mức lớn hơn, theo quan điểm của họ, những thiệt hại mà họ có thể gánh chịu.

Một vấn đề khác được đặt ra là liệu Bộ ngoại giao Việt Nam nói chung, và các Đại sứ quán Việt Nam tại châu Âu nói riêng có biết hay không? Có tham gia vào quyết định trong vụ bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh hay không?

Giáo sư Vũ Tường nói tiếp:

Tôi nghĩ là Bộ Ngoại giao chỉ có trách nhiệm thừa hành thôi. Những quyết định quan trọng là do Bộ chính trị quyết định. Bộ Ngoại giao cũng có tiếng nói vì ông Bộ trưởng là Ủy viên Bộ Chính trị, nhưng chỉ là tiếng nói thôi, mà lại khá yếu. Tôi nghĩ vừa rồi không phải là một quyết định do Bộ Ngoại giao chủ xướng.”

Bộ trưởng Ngoại giao hiện nay của Việt Nam là ông Phạm Bình Minh. Ông Minh bắt đầu đảm nhận chức vụ Bộ trưởng từ năm 2011, nhưng chỉ mới được vào Bộ Chính trị, bộ máy quyền lực lớn nhất nước từ đầu năm 2016, sau Đại hội lần thứ 12 của đảng cầm quyền.

Trong những lần trao đổi trước đây với RFA, Giáo sư Tường cũng nói rằng các nhân vật phụ trách đối ngoại trong Đảng Cộng sản mới có quyền quyết định về chính sách đối ngoại, hơn là ông Bộ trường Ngoại giao.

Theo ông Đặng Xương Hùng, một cựu nhân viên ngoại giao Việt Nam hiện đang tị nạn chính trị tại Thụy Sĩ thì các nhân viên an ninh trong các đại sứ quán Việt Nam nhận nhiệm vụ từ cơ quan an ninh, mà ông đại sứ có khi cũng không biết được hoạt động của họ.

Liên quan đến vụ Trịnh Xuân Thanh và trách nhiệm của tòa Đại sứ Việt Nam tại Berlin trong vụ này, nhà báo Lê Trung Khoa nói với chúng tôi:

“Theo nguồn tin mà tôi nhận được thì ngay trong Đại sứ quán Việt Nam tại Berlin, thì ông Đại sứ đặc mệnh toàn quyền là ông Đoàn Xuân Hưng rất bất ngờ, và các cán bộ của họ trong này bắt buộc phải làm theo cái điều đó khi nó xảy ra rồi, tức là họ không được báo trước, hoặc là họ bắt buộc phải làm bởi vì họ là nhân viên nhà nước.”

Đã có những cố gắng mà một số nhà quan sát cho rằng phía Việt Nam đã thực hiện trong vòng một năm qua để hàn gắn mối quan hệ giữa Việt Nam và Đức, cũng như với các quốc gia châu Âu. Đó là VN liên tục thực hiện những chuyến thăm cấp cao tới các nước thành viên của EU để thúc đẩy EU thông qua hiệp định thương mại tự do: Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ thăm Bỉ, Slovakia, Thụy sĩ vào tháng 9/2017, ông Hoàng Bình Quân, Trưởng Ban đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam thăm nước Đức vào tháng 7/2017. Gần đây nhất là vào cuối tháng 3/2018, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam ông Nguyễn Phú Trọng sang thăm Pháp.

Theo thông tin từ Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, nhà nghiên cứu chính trị Việt Nam tại Singapore, vào đầu tháng 9/2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại sẽ sang thăm ba quốc gia châu Âu, có thể là để xoa dịu sự bực bội của các nước này sau vụ Trịnh Xuân Thanh. Hiện tên của ba quốc gia này chưa được tiết lộ, nhưng ông Hà Hoàng Hợp cho biết là không có nước Đức.

Đánh giá về khả năng Việt Nam có đạt được hiệp định thương mại tự do với châu Âu trong thời gian tới đây hay không, Giáo sư Vũ Tường nhận định:

Tôi nghĩ là cuối cùng có thể họ cũng đạt được cái đó thôi, vì chuyện này (Trịnh Xuân Thanh) không lớn bằng Hiệp định với Âu châu. Từ từ thì họ cũng có thể xoa dịu, mua chuộc được bên phía Âu châu bỏ qua cho họ, bằng một thủ đoạn nào đó, thỏa thuận ưu đãi nào đó, thậm chí có thể trả tự do sớm cho Trịnh Xuân Thanh rồi cho ông ta đi Đức.”

Một nhượng bộ lớn mà các nhà quan sát cho rằng Việt Nam đã thực hiện đối với nước Đức là cho phép Luật sư Nguyễn Văn Đài, người sáng lập Hội Anh em dân chủ, và người cộng sự là cô Lê Thu Hà được sang tị nạn chính trị tại Đức gần đây, sau một thời gian bị bỏ tù vì cáo buộc âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân.

Nguồn: RFA

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”