Sử ta, sao lại phải hỏi ý kiến Tàu?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Tại sao phải ‘ngồi lại’?

Dư luận đang sôi sùng sục bởi ý kiến của GS Phạm Hồng Tung xung quanh vấn đề “Chiến tranh biên giới 1979 được dạy trong chương trình phổ thông mới ra sao” đăng ở Vietnamnet.

Theo giới thiệu thì ông Phạm Hồng Tung là giáo sư sử học đang giảng dạy tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội), là Chủ biên chương trình Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Với những vị trí ấy thì ông có ảnh hưởng nhiều đến việc giảng dạy lịch sử.

Khi cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Cộng mấy chục năm nay bị giấu biến thì nói chung, nhiều ý kiến của ông chấp nhận được, trúng suy nghĩ của nhiều người. Ví dụ ông cho rằng cần tránh che giấu sự thật trong giảng dạy… về sự kiện lịch sử này. Ông Tung cũng thừa nhận những người đã hy sinh trong cuộc chiến tranh này rất ít được nhắc đến hoặc ông chỉ ra trong nhà trường, việc giáo dục về nội dung lịch sử này rất sơ sài, chỉ được đề cập đến với 4 câu, 11 dòng tại sách giáo khoa Lịch sử lớp 12… Ông cho biết Trung Quốc vẫn đang được dạy một chiều về cuộc chiến tranh này và xuyên tạc về nó. Không chỉ thế mà tất cả các cuộc chiến tranh trong quá khứ, lịch sử hai bên dạy rất khác nhau.

Tuy nhiên, ông Tung lại cho rằng đây là vấn đề nhạy cảm nên cần phải cẩn thận. Và cái sự cẩn thận quá đáng của ông ta đã dẫn đến phản ứng của dư luận.

Tất nhiên, những vấn đề ông Tung nói ra là phải có chủ trương chứ không phải nghĩ thế nào, ông cứ tuồn tuột nói ra như thế. Vì không phải đến bây giờ ông mới dạy sử và không phải cuộc chiến tranh này vừa mới diễn ra mà từ 40 năm nay rồi. Nói thế để thấy rằng, ông nói gì thì cũng phải được phép và bây giờ ông được phép nói ra như thế. Chính tư duy “được phép” mới dẫn đến ý kiến gây bão trên mạng xã hội: Bây giờ (40 năm đã qua) “chính là lúc giới sử học của hai nước nên ngồi lại, thảo luận những nguyên tắc cơ bản để dạy về những vấn đề liên quan đến lịch sử hai nước.” 

Ý kiến này của ông Tung có vẻ mâu thuẫn với các ý kiến khác của ông như “cần phải dạy về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới phía Bắc năm 1979 một cách khoa học, đúng đắn”, hay “không nên lảng tránh việc trình bày và đánh giá về quá trình lịch sử này”, vì nếu đã có thái độ khoa học và đúng đắn, không lảng tránh thì việc gì còn phải “ngồi lại” với kẻ đã xâm lược nước mình, đã giết chóc, tàn sát nhân dân mình.

Để tăng tính thuyết phục cho ý kiến này, ông Tung dẫn ra chuyện Pháp và Đức từng xảy ra chiến tranh và đã ngồi lại với nhau. Nhưng Pháp và Đức khác hẳn Việt Nam, Trung Quốc về dân trí, dân chủ, về tính văn minh của chế độ chính trị. Quan hệ giữa hai nước ấy là quan hệ bình đẳng, ngang hàng, khác hẳn quan hệ Việt Trung.

Ý kiến của ông Tung có thể hiểu rằng, viết về cuộc chiến tranh này như thế nào là phải hỏi ý kiến Trung Cộng. Viết về một cuộc chiến tranh, phải đề cập đến bối cảnh, nguyên nhân, diễn biến và hậu quả. Hai phía là kẻ thù, là đối phương, là đối tượng tác chiến của nhau nên quan điểm mỗi bên nhất định phải khác nhau, trái ngược nhau. Khi đã rụt rè không dám viết khác với ý kiến kẻ thù, hay được kẻ thù đồng ý thì còn gì là lịch sử nữa mà nó trở thành một sự kiện đã được gọt giũa, cắt xén, giấu giếm cho vừa lòng kẻ đã phát động chiến tranh xâm lược và để có lợi cho “đại cục”.

Trước ý kiến không thể chấp nhận được của ông Tung, facebooker Phuc Dinh Kim vặn, khó mà bắt bẻ: “Nếu chấp nhận lời đề nghị của Phạm Hồng Tung, tôi yêu cầu đến dịp kỷ niệm 45 năm ngày chấm dứt chiến tranh và thống nhất đất nước 30/4/1975-30/4/2020, giới Sử học Việt Nam nên mời các Sử gia của Mỹ và VNCH đang định cư trên khắp thế giới ngồi lại để thống nhất nội dung lịch sử nước nhà giai đoạn 1954-1975.” 

Fbker Phuc Dinh Kim đánh trúng tâm lý nô lệ, nhược tiểu trước thiên triều. Ông Tung trả lời sao đây về ý kiến này?

Lịch sử không xu nịnh ai

Thái độ của người viết sử là phải trung thực với lịch sử, chứ không phải theo nghị quyết, chủ trương, đường lối của một đảng phái nào đó, càng không phải theo ý muốn của kẻ thù.

Việc ông Tung đặt ra vấn đề viết về cuộc chiến tranh xâm lược của TC phải hỏi ý kiến Trung Cộng có lẽ xuất phát từ thói quen, viết gì, dạy như thế nào phải được phép, phải theo định hướng. Từ chỗ các nhà viết sử đã quen với chỉ thị, định hướng của đảng và ông Tung vì theo thói quen nên mới nâng lên khuôn phép mới là hỏi ý kiến kẻ thù.

Xin nhắc lại câu chuyện xưa nói về phẩm chất, khí tiết của người chép sử:

Thôi Trữ là công thần nước Tề, giết vua Tề là Tề Trang Công (tên thật là Khương Quang). Quan Thái sử chép rằng: “Mùa Hạ, tháng 5, ngày Ất Hợi, Thôi Trữ giết vua của nó là Quang”. Trữ sợ, bảo ghi khác đi thì Thái sử không chịu nên bị Trữ giết. Em của quan Thái sử tiếp tục công việc của anh, chép y câu trên, lại bị giết. Cho đến người em thứ ba vẫn chép nguyên câu ấy, sẵn sàng chịu chết nhưng Thôi Trữ không dám giết nữa.

Khi người em thứ ba được toàn mạng lui ra, thì gặp Nam Sử thị là một viên sử quan khác đứng chực sẵn. Thì ra Nam Sử thị sợ cả ba anh em Thái sử bị giết hết sẽ không có ai ghi lại sự thật lịch sử, nên đã viết sẵn trên thẻ, vẫn là: “Mùa Hạ, tháng 5, ngày Ất Hợi, Thôi Trữ giết vua của nó là Quang”.

Nhắc lại câu chuyện này để thấy khí tiết của người viết sử xưa, thà chết chứ không thể viết khác sự thật lịch sử.

Nhớ lại có lần một diễn giả đến trường tôi nói chuyện về ông Hồ Chí Minh, kiểu như ông Hoàng Chí Bảo sau này. Trong buổi nói chuyện chừng ba giờ, nhiều lần ông nhắc đến cụm từ “những người làm sử chúng tôi”. Lần đầu, tôi nghe đến chữ “làm sử” thấy hay hay, là lạ và thán phục lắm. Sau nghĩ lại thấy không ổn. Sao lại “làm sử”? Người ta có thể nói “làm văn”, “làm thơ” vì văn học là sáng tác, được tưởng tượng, hư cấu. Còn sử thì làm ra sao được? Điều đó có thể hiểu rằng trong tư duy của họ, viết sử là phải nhào nặn, phải theo chỉ đạo. Lịch sử Việt Nam đương đại mà chúng ta vẫn học đã nói lên điều đó. Vì thế mới có Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu mới có “ngụy quân ngụy quyền” Sài Gòn, tay sai của đế quốc Mỹ… Đó là sản phẩm của “làm sử”. Do “làm sử” mà lúc thì TQ là kẻ thù, lúc thì là bạn vàng và cuộc chiến tranh Trung – Việt năm 1979 lúc thì biến mất, lúc thì lác đác nhắc lại. Thế thì còn gì là sử. Phải trở lại với chữ của người xưa là “chép sử”, “sử ký” (ký: ghi chép) chứ không phải “làm sử” thì lịch sử mới khách quan.

Lịch sử hiểu ngắn gọn là những gì đã diễn ra trong quá khứ. Vì vậy, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Cộng xảy ra như thế nào cứ thế mà viết, hà tất phải hỏi ý kiến “bố con đứa nào”.

Nguyễn Tường Thụy

Nguồn: Blog Nguyễn Tường Thụy

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…