Gửi đi câu hỏi vác nặng nửa đời người

Dân quân Nam Bộ, 1945. Ảnh: Wikipedia
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

“Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến…” (1) Từ lời bài hát này, tôi muốn gửi đi một câu hỏi đã mang theo suốt hơn nửa cuộc đời…

Có những ngày tháng không thể nào phai trong ký ức của một dân tộc. 23 tháng 9 năm 1945 là một ngày như thế! Buổi sớm tinh mơ, Nam Bộ vang tiếng súng kháng chiến chống lại quân xâm lược quay lại, chỉ 21 ngày sau khi nền Cộng hòa non trẻ vừa chào đời.

Mỗi độ thu về, ký ức ấy lại bừng lên, nhắc nhở ta về một thời trai trẻ, chí những người muốn làm Trần Quốc Toản. Dẫu tuổi còn nhỏ, chưa được bàn quốc sự, vẫn tự mình đứng lên dựng cờ phá cường địch. Lũ chúng tôi rủ nhau đến cơ quan quân sự xin vào Vệ quốc quân, tình nguyện đi “Nam tiến” làm liên lạc.

Mấy anh chỉ huy, vốn là huynh trưởng Hướng Đạo, bảo chúng tôi hãy giữ chí, về tiếp tục học. Những anh lớn tuổi hơn, đã đỗ “Thành Chung,” thì xung phong lên đường Nam tiến. Chúng tôi tiễn các anh ở ga, hát vang bài “Xếp bút nghiên.”

Trong thác lửa ấy, hàng vạn thanh niên đôi mươi đã xông ra sa trường, cầm gươm súng, dao mác, tầm vông. Một thế hệ vừa rời ghế học đường, đã bước ngay vào Kháng chiến, coi công danh như phù vân. Vì sơn hà nguy biến, ta quyết tiến, quyết liều thân…

Tuổi hai mươi ấy lẽ ra là để yêu thương, để mơ mộng, để gieo hạt cho tương lai, lại trở thành tuổi hai mươi dấn thân cho Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Thế mà đến nay, Độc lập vẫn chưa đi đôi với Tự do và Hạnh phúc!

Giờ đây, ở tuổi ngoài chín mươi, vượt lên cả “xưa nay hiếm,” nhớ lại vẫn còn rưng rưng trong tâm trí những hăm hở, cuồng nhiệt của một thời trai trẻ. Khi ấy, chúng tôi đơn giản chỉ nghĩ: Có một đất nước độc lập, rồi sẽ có tất cả.

Thành thử, tôi không giống mấy nhà báo thường viết những bài tụng niệm. Nào là giá trị lịch sử, giá trị thời đại, ý nghĩa trường tồn, sức sống bất diệt… những câu chữ đao to búa lớn mà nhiều khi rỗng rang ý nghĩa.

Suốt những năm hoạt động nội thành theo Kháng chiến, niềm tin vào tương lai, vào tiền đồ cách mạng vẫn cháy bỏng. Rồi những tháng ngày trong lực lượng “Thanh niên Xung phong,” đi xây dựng nhà máy đầu tiên cho nền công nghiệp mới; rồi lại vác ba lô khắp nơi xin bàn ghế, dựng lại những ngôi trường cũ…

Những công việc ấy tưởng chừng bình thường, nhưng vẫn đầy hiểm nguy. Ấy vậy mà “ánh lửa từ trái tim” chưa bao giờ tắt. Ánh lửa ấy được nuôi dưỡng bởi hai câu thơ như một lời thề:

“Nguyên còn đó non xanh
Mấy độ tà dương hồng?” (2)      

Núi non sừng sững – biểu tượng của sự vĩnh hằng. Tà dương đỏ thẫm bao lần trở lại – gợi nhắc vòng quay của thời gian. Dẫu nắng có tắt mấy độ, dân tộc này vẫn trường tồn. Độc lập – Thống nhất là cơ sở để dựng lên nền Tự do – Hạnh phúc vẫn còn ở phía trước.

Nếu những thế hệ mùa Thu năm xưa dám xả thân chọi lại gươm súng bạo tàn, hàng triệu người đã ngã xuống, thì họ đã trao lại cho thế hệ nối tiếp sứ mệnh xây nền Tự do – Hạnh phúc. Nhưng liệu những thế hệ tiếp nối ấy đã làm trọn sứ mệnh lịch sử? Đã trả lại cho người Dân vị trí xứng đáng là chủ nhân thực sự của đất nước?

Đọc lại lịch sử, dường như mọi cuộc cách mạng đều khó thoát số phận nghiệt ngã. Cuộc cách mạng Pháp 1789, với ba tiêu chí tuyệt vời: Tự do – Bình đẳng – Bác ái, nhưng sau đó máy chém lại lấy thủ cấp của chính những người khởi xướng.

Nhưng họ đã kịp để lại cho nhân loại những sự thật đoạn trường: “Mọi cuộc cách mạng đều quay lại ăn thịt những đứa con của mình” (3). Họ còn tiên đoán một sự thật khác: “Lý tưởng cách mạng do các bậc trí thức khởi xướng, hành động cách mạng do tầng lớp cuồng tín thực hiện, còn thành quả cách mạng thì bọn cơ hội lưu manh cuỗm mất” (4).

Liệu Việt Nam có đứng ngoài vòng kim cô oan nghiệt ấy? Thế hệ 23 tháng 9 năm xưa, và cả những thế hệ tiếp sau, đã đặt trọn niềm tin vào nền Cộng hòa Dân chủ non trẻ. Nhưng rốt cuộc, nhiều người trong số họ lại trở thành nạn nhân của chính thể chế mình từng xả thân dựng lên. Ngày nay, dường như Dân chủ – Tự do chỉ còn là cái bóng, một thứ “hồn Trương Ba, da hàng thịt” (5).

Tôi đang cố kiếm một câu trả lời xác đáng: Ai, cái gì đã trở thành vật cản khiến Việt Nam không chịu phát triển, để từ chỗ từng sánh vai, nay chỉ còn sánh vế, sánh đùi thiên hạ?

Buồn cười thay, vừa đọc trên báo nhà nước, số Chủ nhật 21/9, có bài giật tít: “Biến thể chế từ ‘điểm nghẽn của điểm nghẽn’ thành lợi thế cạnh tranh quốc gia (6)

Muốn “biến điểm nghẽn thành lợi thế quốc gia” thì thật hồ đồ! Một cái tít rất phản động. Thì ra vẫn có những thế lực muốn duy trì điểm nghẽn để tiếp tục đục khoét. Nhưng ai mới là kẻ phải chịu trách nhiệm đã gây ra những điểm nghẽn ấy, khiến dân tộc này không thể bay lên như rồng, mà vẫn rúc ráy trong bùn lầy? Tiềm long tại điền vật dụng. (Con rồng rúc trong bùn là đồ bỏ, vô dụng.)

Ngày nay người ta nói nhiều đến phát triển vật chất, đến một GDP vượt ngưỡng 14 ngàn đô la, rồi hơn nữa. Nhưng có hai điều phải nhớ. Một là phát triển bền vững không thể tách rời Nhân quyền, Dân quyền. Đó là quy luật, là bài học nhãn tiền. Không có nhà nước độc tài, độc quyền nào đạt phát triển bền vững – từ Nga Xô, Bắc Triều Tiên cho đến Trung Quốc, cũng không ngoại lệ!

Điều thứ hai: Một đất nước tự nhận văn minh, phát triển mà bỏ qua những giá trị phổ quát như Tự do – Dân chủ, Dân quyền – Nhân quyền… thì đã hạ thấp nhân phẩm dân tộc mình. Nếu thế hệ mới không giải được bài toán ấy, thì họ thật có lỗi với thế hệ 23/9 đã ngã xuống năm xưa.

Chính Hồ Chí Minh từng nói: Có Độc lập, Thống nhất rồi mà dân không được hưởng Tự do, Hạnh phúc thì cũng chẳng nghĩa lý gì. Các vị lãnh đạo hôm nay có biết dân đang mỉa mai điều gì không? Họ nói Di chúc của Bác chỉ mới thực hiện được “một phần ba.” Bác nói “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do” thì nay mới chỉ đạt được… vế “không có gì”!

Tôi nay đã ngoại chín mươi, không biết còn tồn tại được bao lâu. Nhưng như Descartes nói: “Còn tồn tại thì còn tư duy” (Cogito ergo sum). Đó là sự thật trong lòng tôi. Trong tôi, tiếng vang “Sơn hà nguy biến” giờ đã mang ý nghĩa mới: Khi tham nhũng, cậy quyền chưa bị diệt trừ, khi sự trì trệ, lạc hậu, lỗi thời vẫn còn đó…

Người xưa nói “lão giả an chi.” Nhưng làm sao mà “an chi” được, khi những câu hỏi nóng bỏng trên vẫn chưa có lời đáp? Tại sao các giá trị Dân chủ – Cộng hòa vẫn vắng bóng trên quê hương yêu dấu này của chúng ta?

Nguyễn Khắc Mai
Ông già Ô Đồng Lầm – Hà Nội, Trung tâm Minh Triết

Chú thích:

(1) https://bcdcnt.net/tu-lieu/nam-bo-khang-chien-ta-thanh-son-122.html

(2) https://www.thivien.net/D%C6%B0%C6%A1ng-Th%E1%BA%ADn/L%C3%A2m-giang-ti%C3%AAn/poem-Tam6g6B6sk3tK9d3Qvy-TA (Về bài TỪ của Lâm Giang Thiên)

(3 & 4) https://www.histoire-en-citations.fr/citations/vergniaud-il-a-ete-permis-de-craindre-que-la-revolution# Câu nói “Cách mạng ăn thịt những đứa con của mình” (La révolution dévore ses enfants) thường được gán cho Georges Danton, nhưng có nhiều tranh cãi về nguồn gốc chính xác. Một số tài liệu lại xác tín rằng câu này xuất phát từ Pierre Vergniaud, một lãnh đạo phái Girondins trong Cách mạng Pháp, khi ông lên tiếng chỉ trích sự cực đoan của phái Jacobins trước khi bị đưa lên máy chém. Ngoài ra, triết gia Hegel cũng được cho là đã đề cập đến ý tưởng tương tự trong các tác phẩm triết học của mình về biện chứng lịch sử. https://en.wikipedia.org/wiki/Age_of_Enlightenment?utm_source=chatgpt.com Có thể tham khảo: “L’idéal de la révolution est conçu par les intellectuels, son accomplissement est porté par les exaltés, mais ses fruits, hélas, sont accaparés par les opportunistes sans scrupules”

(5) https://download.vn/hon-truong-ba-da-hang-thit-48746 “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” là một vở kịch nổi tiếng của Lưu Quang Vũ. Câu chuyện kể về Trương Ba – một ông già nhân hậu, giỏi cờ, chết oan, rồi được cho sống lại trong thân xác một anh hàng thịt thô lỗ. Từ đó, ông rơi vào bi kịch: Tâm hồn thanh cao nhưng bị chi phối, giằng xé bởi những dục vọng và bản năng của thân xác. Tác phẩm đặt ra vấn đề triết lý sâu sắc: Con người không thể sống nhờ vay mượn, giả dối; hồn và xác phải hài hòa, thống nhất. Đây cũng là lời nhắc về nhân cách, bản lĩnh sống đúng với chính mình trong một xã hội nhiều biến động.

(6) https://baomoi.com/bien-the-che-tu-diem-nghen-cua-diem-nghen-thanh-loi-the-canh-tranh-quoc-gia-c53292670.epi

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”