Thương Huế đang quằn quại đau thương trong biển nước – Vì đâu ra nông nỗi này?

Những ngày cuối tháng 10 cố đô Huế đang chìm trong biển nước. Ảnh: FB Nguyen Chiến Thắng
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Những ngày cuối tháng 10, cố đô Huế đang chìm trong biển nước.

Mưa lớn kỷ lục trút xuống Thừa Thiên – Huế, lượng mưa trong 24 giờ đạt 1.085,8 mm, vượt xa mọi số liệu từng ghi nhận tại Việt Nam trước đó. Đỉnh lũ trên sông Bồ đạt 5,25 m, vượt mức lịch sử năm 1999 (5,18 m). Nước sông Hương vượt báo động 3 hơn 1 m, ngập sâu trong nội đô. Khoảng 35.000 ngôi nhà bị ngập, nhiều vùng bị cô lập hoàn toàn.

Trận lũ này được chính quyền Huế gọi là “lũ lịch sử” – nhưng trên thực tế, nó là một thảm họa lặp lại, báo trước sự sụp đổ của quy luật cân bằng tự nhiên mà con người đã phá vỡ.

Người Huế vẫn chưa quên “Đại hồng thủy năm 1999.” Hơn hai mươi năm trước, mưa kéo dài nhiều ngày, đỉnh lũ sông Hương tại Kim Long đạt 5,81 m. Lần này, lũ đến nhanh hơn, dữ dội hơn, chỉ trong vài chục giờ.

Nếu lũ 1999 là thiên tai, thì lũ 2025 là thiên nhân tai kết hợp – hậu quả trực tiếp của gần 5 thập niên tàn phá rừng đầu nguồn, quy hoạch thủy điện sai lầm và sự bất lực của quản trị môi sinh.

Bản đồ diện tích rừng Việt Nam qua các năm 1943, 1983 và 1997. Ảnh: FB Nguyen Chiến Thắng
Bản đồ diện tích rừng Việt Nam qua các năm 1943, 1983 và 1997. Ảnh: FB Nguyen Chiến Thắng

Ba bản đồ rừng Việt Nam – năm 1943, 1983, và 1997 – là ba lát cắt trần trụi của lịch sử. Chúng phơi bày toàn bộ bi kịch sinh thái của đất nước.

1943 dưới thời Pháp thuộc: Rừng còn xanh, sông còn hiền. Độ che phủ rừng cả nước đạt 43–45%, rừng già nhiệt đới còn che phủ kín dọc Trường Sơn, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ. Người Pháp, dù khai thác gỗ, vẫn giữ hệ thống rừng bảo hộ nguồn nước, quy hoạch khu vực cấm và rừng phòng hộ. Những lưu vực như sông Hương, sông Cả, sông Đồng Nai đều có vùng “bảo lưu thủy sinh” để chống xói mòn, giữ nước.

Đến năm 1983 – Sau gần 10 năm thống nhất đất nước: Thời kỳ đen tối của rừng Việt Nam bắt đầu. Độ che phủ rừng chỉ còn 23–27%, giảm một nửa so với trước 1945. Lâm trường quốc doanh khai thác gỗ vô tội vạ. Phong trào kinh tế mới mở đất rừng, đốt nương rẫy. Thủy điện vừa và nhỏ mọc lên khắp nơi, hàng vạn ha rừng đầu nguồn bị ngập trong các hồ chứa thủy điện. Cũng là thời điểm xuất hiện câu dân gian mới “Gỗ vào nhà quan, nước vào nhà dân.” Rừng đầu nguồn lưu vực sông Hương, Bạch Mã, A Lưới bị xóa sổ. Từ đây, dòng chảy không còn được kìm hãm, mưa trút xuống là lũ ống, lũ quét, nước ồ ạt đổ về đồng bằng, biến Huế thành chảo trũng mỗi khi mưa, bão về.

Năm 1997 tuy rừng nhân tạo có phục hồi, nhưng cũng chỉ là sự phục sinh giả tạo. Độ che phủ có tăng lên 30–32%, nhưng đó là rừng trồng: keo, bạch đàn, thông là những loại cây nghèo dinh dưỡng, không giữ đất, không giữ nước. Rừng thật đã chết, chỉ còn rừng giấy, rừng ảo, rừng báo cáo.

Về mặt sinh thái, Việt Nam vẫn trần truồng trước mưa, lũ.

Thủy điện những tưởng là “điện sạch” ngờ đâu thành “thảm họa kép.”  Công thức của thảm họa được lặp đi lặp lại: “Tích nước khi hạn gây hạn kép, xả nước khi lũ gây lũ kép.”

Gần 500 đập thủy điện vừa và nhỏ được cấp phép trong ba thập niên qua. Nhiều hồ chứa không đủ dung tích điều tiết, xả lũ khẩn cấp đúng lúc mưa lớn đã tạo ra “lũ chồng lũ.”

Nước từ trời trút xuống, nước từ đập tuôn ra, khiến thành phố Huế không có cơ hội thoát lũ. Trong khi đó, rừng đầu nguồn đã bị san phẳng, đất mất khả năng hút nước, dòng chảy lũ quét lao thẳng xuống hạ du. Thiên tai vốn đến từ trời, nhưng nhân tai đến từ bàn giấy và con dấu.

Đến đây có thể đặt ra một câu hỏi:

Tại sao sau giải phóng Việt Nam đã bỏ ra hàng ngàn, hàng triệu tỷ cho những tượng đài, cổng chào, chùa chiền khủng… nhưng Huế và miền Trung không được xây đê điều như Bắc Bộ?

Câu hỏi tưởng nhỏ nhưng là chìa khóa để hiểu căn nguyên của một thế kỷ quản trị.

Sông Hồng, sông Đáy được thực dân Pháp quy hoạch hệ thống đê từ thế kỷ XIX. Họ tính toán thủy văn, lưu lượng xả, độ cao mực nước 100 năm một lần. Người Pháp là thực dân – họ khai thác thuộc địa – nhưng những công trình thế kỷ của họ cho đến nay- sau hơn 100 năm người dân Việt Nam vẫn được hưởng lợi. Và đến nay, đê sông Hồng, sông Đáy vẫn bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ.

Còn Huế và miền Trung cho đến nay vẫn không có đê. Không ai phủ nhận địa hình dốc, sông hẹp, mưa tập trung. Thủy triều từ biển Thuận An có ảnh hưởng dòng chảy sông Hương. Chi phí khổng lồ, Huế không nằm trong “vùng kinh tế trọng điểm.” Di tích chồng chéo – đê cao phá cảnh quan Kinh thành, vướng UNESCO. Giải phóng mặt bằng tốn kém, hàng ngàn hộ dân cần di dời…

Đắp đê là khó khăn, phức tạp và tốn kém. Nhưng không có nghĩa là bó tay. Vấn đề là thiếu quy hoạch tổng thể, công trình chắp vá. Nạn tham nhũng hoành hành, trì trệ, vô cảm dự án nào không “ăn được” thì bị gác lại. Kết cục sông Hương vẫn tự nhiên, nhưng dân Huế thì không còn bình an trước thiên tai.

Từ đó có thể đặt thêm một câu hỏi khác. Đây là câu hỏi đau đớn nhưng cần được hỏi thẳng:

Tại sao hơn 100 năm trước, người Pháp đã xây đê kiên cố bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ, còn nay, một chế độ nhân danh “vì dân” lại để Huế và miền Trung chìm trong nước năm này qua năm khác?

Thực dân Pháp khai thác tài nguyên Việt Nam vì lợi ích của họ, nhưng họ hiểu quy luật tự nhiên. Họ trị thủy để bảo vệ tài sản thuộc địa, nhưng dân Việt được hưởng lợi. Còn chế độ hiện nay, nhân danh nhân dân, lại phản tự nhiên: Phá rừng, đắp đập, chia cắt dòng sông, xả lũ vô trách nhiệm, quy hoạch tùy tiện.

Nếu thiên nhiên là một người thầy đang ra bài thi kiểm tra, thì chế độ này đã copy bài của người Pháp, nhưng không hiểu nội dung, nên bị thiên nhiên phạt.

Huế hôm nay không chỉ ngập trong nước – mà ngập trong sự thất bại của một mô hình phát triển. Hơn nửa thế kỷ nhân danh “xây dựng XHCN,” Việt Nam đã:

Mất rừng,
Mất cân bằng sinh thái,
Mất khả năng kiểm soát nước,
Và mất luôn đạo lý quản trị vì dân.

Thủy điện mọc lên thay cho rừng.
Công an xuất hiện cưỡng chế đất đai thay cho quy hoạch, đền bù thỏa đáng.
Và mỗi mùa mưa, người dân miền Trung nói riêng và cả nước nói chung lại phải trả giá bằng chính sinh mạng và tài sản của họ.

Bài học ở đây là gì?

Đê điều không chỉ là công trình dân sinh mà còn là biểu tượng của ý chí trị thủy và tầm nhìn quốc gia.

Thực dân Pháp để lại đê sông Hồng, đê sông Đáy; còn ĐCSVN để lại gì cho con cháu? Ngoài những khu thủy điện xả lũ vô tội vạ, những vùng rừng bị cạo trọc, những bản làng mất trắng, bạt núi làm chùa khủng và những lời hứa rỗng.

Thay cho lời kết:

Huế không chỉ chịu thảm họa thiên nhiên; Huế đang phải chịu vì sự vô trách nhiệm kéo dài của con người.

Từ phá rừng đầu nguồn đến xây đập thủy điện, bạt núi xây chùa khủng, xây dựng khu du lịch sinh thái; từ quy hoạch đất đai đến đê điều, tất cả đều là những quyết định sai … thiên nhiên chỉ là bên khách quan đang đưa ra luận cứ để chứng minh.

Nếu không thay đổi, mỗi cơn mưa lớn sẽ lại là một bản cáo trạng. Một bản cáo trạng không cần tòa án – vì thiên nhiên sẽ mãi mãi là quan tòa công bằng nhất.

Nguồn: FB Nguyen Chiến Thắng

XEM THÊM:

 

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”