Thủy điện có gây lũ không?

Đà Nẵng chìm sâu trong biển nước. Ảnh: Kinh tế Đô thị, 1/11/2025
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

1.

Để chứng minh rằng thủy điện không những hoàn toàn không gây lũ lụt mà còn giúp “giảm bớt nước tràn xuống hạ lưu,” một vị tiến sĩ (?) đã làm thí nghiệm như trong hình. Thí nghiệm được mô tả như sau:

“Cái cốc pha lê trắng là hồ thuỷ điện. Vòi nước là mưa. Sàn màu đen là vùng hạ lưu của đập thuỷ điện.

Khi vòi nước bắt đầu chảy (trời bắt đầu mưa) cốc nước chứa toàn bộ nước chảy từ vòi, chỉ đến khi cốc nước đã đầy thì nước mới tràn qua miệng cốc xuống sàn, làm ướt sàn và tạo ra dòng nước chảy dưới sàn, khi ấy lượng nước chảy xuống sàn chỉ đúng bằng lượng nước chảy từ vòi vào cốc nước.”

Là một người không có chuyên môn về ngành thủy văn nhưng với quan sát thực tế và kiến thức vật lý phổ thông, tôi thấy thí nghiệm này không phản ánh đúng bản chất của thủy điện cũng như tính chất của dòng nước lũ trong trường hợp có và không có thủy điện.

2.

Đầu tiên, thí nghiệm này mô tả không đúng về mưa và đập thủy điện cũng như cách mà thủy điện vận hành.

a) Về mưa. Mưa không phải chỉ là một vòi nước như trong mô tả, nó được phân bố trên một diện rộng, gọi là lưu vực, có thể lên đến hàng nghìn km². Vì thế, mưa không “rót” xuống tại một điểm, nó là từng hạt nhỏ và rải trên diện rộng. Mà như chúng ta biết, trên cái lưu vực rộng lớn ấy, mưa thì nơi lớn, nơi nhỏ, lại rớt trên những vị trí và địa hình khác nhau, chảy vào các nhánh sông, suối cũng khác nhau. Thành ra, khi chảy về hạ du, chúng không chảy cùng lúc, không về cùng lúc. Ví dụ như ở Huế, có dòng đến trước, dòng đến sau, dòng nhỏ dòng lớn, đến sớm đến muộn. Vì thế, lũ (tự nhiên) được phân tán, trải dài và tiêu dần trên trục thời gian đến – đi.

b) Như đã nói ở (a), nước mưa phân bố trên một địa hình rộng, và chảy về hạ du theo thời điểm khác nhau. Nhưng khi có đập thủy điện thì hoàn toàn khác: Tất cả các nhánh sông suối trên lưu vực này đều tập trung lại một điểm, đầy lên ở một thời điểm, và xả xuống cùng lúc.

Hãy hình dung như sau: Khi bạn tưới cho chậu cây cảnh của mình bằng cái vòi phun mưa, trong vòng 5 phút, với tổng lượng nước là 10 lít, nó khác hẳn với việc cũng cái vòi ấy và lượng nước đó nhưng bạn xả vào một cái xô rồi sau đó giơ cao lên và xối thẳng vào chậu cây cảnh. Tình hình là nước không những không kịp ngấm mà còn làm xói lở chậu cây, bắn tung tóe ra ngoài… Thủy điện là một cái xô như thế, tất nhiên cái xô này không chỉ có 10 lít nước!

c) Điều vừa nói ở (b) liên quan đến cái gọi là “thủy văn động học.” Cũng một xô nước ấy, nếu bạn hạ thấp xuống và nghiêng từ từ rồi đổ ra, khác hẳn với việc đưa nó lên cao và đổ ập xuống.

Độ cao và khối lượng nước sẽ tạo ra lực lớn nhỏ khác nhau. Càng cao, vận tốc càng lớn. Các bạn có thấy người ta dùng nước để cắt những tấm kim loại dày không? Nó cắt được bởi vì áp suất và vận tốc nước quá lớn. Kim loại còn bị cắt đứt như cắt bánh thì đất đai và sườn núi có nghĩa lý gì? Chính vì thế mà xói mòi và sạt lở ngày càng nhiều, càng lớn.

3.

Thêm nữa, thủy điện không hoạt động như trong cái thí nghiệm này, nó không để cho nước tràn một cách tự nhiên, nó xả, tức là tống nước ra càng nhanh, càng mạnh thì càng tốt, để bảo vệ đập.

Và có thể nó không chỉ xả một lần. Bằng chứng là có khi nước đã rút, lũ đã hạ đỉnh ở hạ du nhưng bỗng lại đột ngột dâng cao trở lại, vì thủy điện xả lần 2, lần 3. Nó tạo ra nhiều đỉnh và duy trì trong thời gian dài. Điều này gây thiệt hại khủng khiếp.

Có những ngôi làng đột ngột bị cuốn phăng đi giữa đêm, không phải vì mưa làm cho lũ chảy về, mà vì người ta đổ cái xô nước hàng nghìn m³ trong 1 giây từ trên cao xuống đầu. Nếu để nước mưa chảy tự nhiên thì nước sẽ dâng từ từ, êm ái, luồn lách mà chảy đi. Còn nếu đổ nước kiểu ấy thì tan hoang.

Một điều cũng cực kỳ quan trọng nữa, là không phải chỉ một thủy điện, mà thực tế cho thấy, trên cùng lưu vực có thể đang có nhiều thủy điện, và chúng xả có khi cùng lúc. Một “quả bom nước” đã khủng khiếp, hàng chục quả bom nước thì sẽ thế nào?

4.

Đập thủy điện có thể có tác dụng hạn chế lũ, điều tiết lũ, nhưng chỉ trong điều kiện là nó (chúng) phải còn đủ dung lượng để chứa nước mưa. Nhưng thực tế không như vậy, nó luôn ở trạng thái đầy hoặc gần đầy, vì thế cái tác dụng ấy bị hạn chế, thậm chí triệt tiêu. Ngược lại, trong tình huống đó, nó khiến cho lũ đến đột ngột hơn, mạnh hơn và cao hơn và có thể kéo dài hơn.

Đó chỉ là mới nói về riêng chuyện tác động đến lũ lụt. Còn rất nhiều vấn đề khác nữa. Thủy điện là ngăn sông, cắt đứt mạch nước của tự nhiên. Vì thế, đáng ra nước mạch cứ quanh năm âm ỉ chảy về suối về sông, nuôi dưỡng toàn bộ hạ du, thì mùa khô/mùa hè, thủy điện làm cho khô kiệt, gây nên nạn hạn hán. Mùa mưa thì thấy rồi. Vì thế, nó làm cho khô thì khô hơn, mưa thì lũ nhiều hơn, lớn hơn, tàn khốc hơn.

Cả một hệ sinh thái bị biến dạng, tiêu diệt, nhiều vùng không còn nước sinh hoạt, không thể sản xuất nông nghiệp. Những dòng sông dòng suối quanh năm rì rầm chảy, nay bỗng cạn trơ đáy, cây cối, muông thú mất nơi sinh sống, cả một chuỗi sự sống bị phá hủy…

Làm thủy điện (nhất là thủy điện cóc, thủy điện vừa và nhỏ) với số lượng lớn (Quảng Nam có tới khoảng 40 thủy điện, nguồn khác cho biết là 80 nếu tính cả những cái đã được cấp phép nhưng chưa triển khai hoặc chưa khai thác), chúng đã tàn phá một diện tích rừng rất lớn. Khi làm thủy điện, không những cây cối bị chặt để thi công và mở đường, mà nước dâng cũng khiến rừng bị ngập và chết. Mà rừng lại vốn là tấm đệm giảm lũ, nuôi nấng khí hậu và mạch nguồn. Hậu quả chồng lên hậu quả, có thể hàng trăm năm chưa thể khắc phục được.

Thủy điện có giá trị đối với “an ninh năng lượng”, nhưng các thủy điện nhỏ không thật sự đóng góp nhiều vào vấn đề này trong khi vì có quá nhiều nên đã gây nên những hậu quả to lớn khắp đất nước.

Đã đến lúc cần quy hoạch lại mạng lưới này, xóa bỏ những thủy điện cóc, đình chỉ những thủy điện bất hợp lý, chuyển dần sang nguồn năng lượng sạch (ví dụ, EVN không có lý do chính đáng nào để hạn chế người dân lắp điện mái nhà). Phải tính tới bài toán tổng thể, hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và người dân. Không thể cứ “quýt làm cam chịu” mãi được.

Các nhà khoa học, thay vì đi làm những cái thí nghiệm “rất chi là này nọ” như trên, hãy dùng kiến thức được học mà phân tích và lý giải một cách trung thực, chỉ ra lợi hại một cách thẳng thắn. Đó là trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, điều mà tôi nghĩ bất kỳ ai cũng nên có một chút trong mình. Bằng không, quý vị hãy mang cả gia đình đến bên dưới những cái đập thủy điện mà sinh sống, lúc ấy kiến thức sẽ được đánh thức chăng?

Thái Hạo

Nguồn: FB Thái Hạo

XEM THÊM:

 

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”