Bê bối “giải cứu công dân”: Sao bộ trưởng và thủ tướng chưa từ chức?

Công dân Việt Nam chờ lên máy bay từ Singapore về Việt Nam hôm 7/8/2020. Ảnh: Reuters
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Thủ tướng Phạm Minh Chính hôm 31/1/2022 yêu cầu khẩn trương giải cứu công dân Việt Nam bị kẹt ở nước ngoài vì dịch COVID-19. Tuy nhiên tại buổi họp, ông Chính không nhận trách nhiệm gì khi để xảy ra vụ bê bối “giải cứu công dân.”

Trước đó, vào ngày 28/1/2022, Trung tướng Tô Ân Xô – Chánh văn phòng Bộ Công an cho báo chí biết, cục trưởng và cục phó cùng hai cán bộ thuộc Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao vừa bị khởi tố và bắt giam vì tội nhận hối lộ khi thực hiện các chuyến bay giải cứu công dân bị kẹt ở nước ngoài trong đợt dịch COVID-19 vừa qua.

Các quan chức gồm Nguyễn Thị Hương Lan – Cục trưởng Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao, Đỗ Hoàng Tùng – Phó cục trưởng, Lê Tuấn Anh – Chánh văn phòng và Lưu Tuấn Dũng – Phó phòng bảo hộ công dân đã có hành vi sai phạm trong quá trình xét duyệt cấp phép cho các công ty thực hiện chuyến bay đưa công dân Việt Nam từ nước ngoài về nước.

Nhà báo Võ Văn Tạo khi trả lời RFA từ Việt Nam hôm 2/2, nhận định:

“Khi dịch xảy ra lúc trước thì cả thế giới căng thẳng nhưng Việt Nam chưa, thì xuất hiện tâm lý nhiêu người muốn về. Tất nhiên cũng có nhiều người không phải vì dịch mà hết thời hạn lao động học tập… Thì lúc đấy có chủ trương đưa bà con về. Nhưng vừa rồi Bộ Công an đã khởi tố 4 nhân vật của Cục Lãnh sự – Bộ Ngoại giao liên quan vụ giải cứu. Nhân lúc bà con đang khốn đốn mà có những kẻ rất tồi tệ nâng giá vé bà con… như bốn người này, pháp luật đã rờ đến và khả năng bốn người này phải chịu án tù.”

Tuy nhiên Nhà báo Võ Văn Tạo cho rằng chủ trương đưa người dân về nước không phải chỉ là của Bộ Ngoại giao mà có sự đồng ý và chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ:

“Tại sao lại xảy ra tiêu cực như vậy? Tôi cho rằng nếu quy kết ngay là tiêu cực từ Chính phủ hay cao hơn nữa… thì chưa có cơ sở. Nhưng để xảy ra tiêu cực như vậy là quản lý không sâu sát. Tức cấp trên không biết cấp dưới làm như thế nào, thực chất hay giả vờ… Trong lúc làm lợi dụng trục lợi một cách quá đáng, vé máy bay đang từ năm sáu trăm lên ba ngàn, tức gấp năm gấp sáu lần. Trong lúc dịch bệnh, bà con hoang mang, không có nguồn thu mà còn bị bắt chẹt như thế. Tôi cho rằng khâu quản lý của chính phủ có khuyết điểm. Nếu như ở những nước tự do khác như Nhật, Hàn thì tôi tin chắc bộ trưởng và thủ tướng đã từ chức… Nhưng ở VN nó khác.”

Khi xảy ra đại dịch vào đầu năm 2020, Chính phủ Việt Nam ra lệnh tạm ngừng nhập cảnh đối với tất cả người nước ngoài và người gốc Việt được miễn visa vào Việt Nam, do lo ngại lây lan dịch COVID-19. Thực tế là kể từ thời điểm đó, Chính phủ đã ngưng hoàn toàn các chuyến bay quốc tế thương mại nhập cảnh vào Việt Nam. Chỉ có một vài chuyến bay mỗi tháng tại các nước do đại sứ quán tổ chức đưa người Việt về, mà báo chí nhà nước gọi là “các chuyến bay giải cứu,” mới được nhập cảnh.

Do đó, hàng ngàn người Việt, bao gồm lao động, du học sinh, khách du lịch ở các nơi như Nhật Bản, Dubai, Hong Kong… hết hạn hợp đồng, bị mất việc hoặc hết hạn visa, không thể hồi hương.

Khi đó, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đồng ý đưa người Việt từ nước ngoài trở về và phải cách ly tập trung. Bộ Ngoại giao cho biết, trong hai năm qua, Việt Nam đã tổ chức khoảng 800 chuyến bay giải cứu đến 60 vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, tất cả những người mà Đài Á châu Tự do phỏng vấn khi đó cho biết rất khó khăn để có thông tin về lịch trình hay các chuyến bay về Việt Nam.

Nhưng thực tế hai năm qua, nhiều chuyến bay giải cứu đã về đến Việt Nam, những người được về phải trả giá vé máy bay và chi phí cách ly rất cao, thậm chí gấp nhiều lần giá thực tế.

Theo phản ánh của nhiều người dân và đã được báo chí trong nước loan tin, giá vé một chiều giải cứu người về từ Mỹ và Canada đã lên tới 52 – 58 triệu đồng một vé, cao gấp đôi mức giá thông thường. Đó là chưa kể thủ tục giấy tờ rườm rà, người về nước dù đã tiêm đủ vắc-xin cũng phải cách ly. Theo phản ánh của người Việt tại Mỹ thì chi phí cách ly khoảng 500.000 đồng/ phòng/người chỉ có bữa ăn sáng, hay đến 1,5 triệu đồng/phòng/người có ba bữa.

Trả lời RFA từ Đức Quốc hôm 2/2, Luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài, nhận định:

“Chuyện liên quan các đại lý bán vé máy bay, các tòa đại sứ, sau này là Cục Lãnh sự… đã lùm xùm từ giữa năm 2020. Lúc đó tôi đã có viết cảnh báo tình trạng này, nhưng mà đến bây giờ phát hiện chuyện Cục Lãnh sự cấu kết để nâng giá vé chặt chém người Việt Nam có nhu cầu trở về nước trong hai năm qua. Khi phát hiện ra như vậy thì đã quá muộn, vì đã có 200 ngàn người bị bóc lột hết sức tàn tệ. Giờ đây đáng lẽ họ phải sửa chữa sai lầm, nhưng ông Phạm Minh Chính lại đưa ra một chính sách sai lầm tiếp. Đó là không tiếp tục sử dụng các hãng hàng không trong nước để đưa công dân trở về, mà ông lại cấp phép cho các hãng nước ngoài. Trong khi ba hãng của VN là Bamboo Airways, Vietjet Air và Vietnam Airlines… cũng đang gặp khó khăn khi thiếu vắng đường bay và hành khách, mà bay giờ cho nước ngoài bay thì hãng trong nước sẽ khó khăn nhiều hơn.”

Theo Luật sư Nguyễn Văn Đài, chính sách cũ của Việt Nam đã sai lầm thì bây giờ chính sách mới còn sai lầm hơn. Không những làm hại các hãng hàng không của Việt Nam, mà còn hại cho cả người dân Việt Nam.

Cho đến ngày 1/2/2022, Bộ Giao thông- Vận tải đã ban hành quy định, người mang quốc tịch Việt Nam ở nước ngoài muốn về nước từ nay sẽ không phải trải qua bất cứ xét duyệt nào, mà chỉ cần tuân thủ các quy định về phòng/chống dịch.

Bộ này cũng đồng ý cho các hãng hàng không được phép bán vé cho tất cả công dân Việt Nam ở nước ngoài về nước. Cục Hàng không Việt Nam ngay sau đó cũng thông báo việc cấp phép ngay cho các hãng hàng không chở công dân về nước trên các chuyến bay thường lệ và không thường lệ mà không yêu cầu bất kể văn bản xét duyệt nhân sự nào.

Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam, hiện còn rất nhiều công dân Việt Nam mắc kẹt tại nước ngoài do dịch COVID- 19. Tại khu vực Trung Đông và Phi Châu có hơn 600 người Việt vẫn chưa thể về.

Nguồn: RFA

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”