Cần bao nhiêu Chỉ thị 07 mới dẹp được “kiêu binh”?

Ông Tô Lâm tham dự và phát biểu tại phiên họp chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 hôm 4/7/2026. Ảnh: VGP
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Trần Đông A

Lịch sử hiện đại Việt Nam cho thấy việc ban hành các chỉ thị chưa bao giờ là điều khó (1). Nan đề thách thức hơn nhiều là xây dựng một trật tự trong đó người dân được quyền khác biệt mà không bị quy kết, trí thức được phản biện mà không phải tự kiểm duyệt, cán bộ không cần đoán ý cấp trên để chứng minh lòng trung thành. Khi ấy, “kiêu binh” sẽ tự mất đất sống.

1. “Kiêu binh” không phải tự nhiên sinh ra

Trong chiến tranh, việc huy động xã hội thường bắt đầu bằng sự phân định tương đối rõ ràng giữa ta và địch. Khi chủ quyền quốc gia bị đe dọa, kẻ thù có thể được nhận diện từ bên ngoài: Đó là lực lượng xâm lược, là bộ máy chiến tranh ngoại bang, là mối nguy đang hiện hữu đối với sự tồn vong của đất nước. Trong hoàn cảnh ấy, sự tập trung quyền lực, kỷ luật nghiêm ngặt và ngôn ngữ chiến đấu có thể được giải thích bằng những đòi hỏi đặc biệt của thời chiến.

Nhưng chiến tranh kết thúc không có nghĩa tư duy thời chiến cũng tự động kết thúc. Một hệ thống đã tồn tại lâu dài bằng động viên chính trị, phân tuyến lực lượng và xác định “đối tượng đấu tranh” có thể gặp khó khăn khi phải chuyển sang quản trị một xã hội thời bình ngày càng đa dạng. Khi kẻ thù bên ngoài không còn là trung tâm thường trực của đời sống chính trị, nhu cầu duy trì trạng thái huy động rất dễ dẫn đến việc tìm kiếm những “kẻ thù” mới ngay trong lòng xã hội, thậm chí ngay trong nội bộ của chính hệ thống.

Đây là một trong những nghịch lý lớn của lịch sử Việt Nam hậu chiến. Những tiếng nói bị nghi ngờ, quy kết hoặc trừng phạt nhiều khi không đến từ các lực lượng muốn chống lại đất nước, mà từ những người cầm bút, những trí thức, nhà báo và văn nghệ sĩ vốn vẫn sống và làm việc trong cùng một trật tự chính trị. Chính vì tư duy độc lập là điều kiện nghề nghiệp của họ, họ cũng thường là lớp người sớm nhận ra khoảng cách giữa giáo điều và thực tế, giữa diễn ngôn chính thức và những biến đổi thực sự của xã hội.

Từ Nhân văn–Giai phẩm đến các vụ án văn nghệ liên quan tới Hữu Loan, Quang Dũng, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Trần Dần, Việt Phương hay Hoàng Cát, có thể nhận thấy một mô thức lặp lại (2). Một tác phẩm trước hết bị quy kết là lệch lạc về tư tưởng; tiếp đó, tranh luận văn chương được nâng thành vấn đề lập trường chính trị; rồi từ phê bình tác phẩm chuyển sang xét đoán phẩm chất, động cơ và lòng trung thành của tác giả. Văn học, thay vì được xem là không gian khám phá con người, trở thành nơi tiến hành những cuộc sát hạch về ý thức hệ.

Điều đáng sợ nhất trong cơ chế ấy không phải lúc nào cũng là một mệnh lệnh được ký và đóng dấu. Như FB Nguyễn Thông nhắc lại khi viết về những vụ án văn nghệ trước đây, trong một bộ máy dựa nhiều vào tín hiệu chính trị, “lệnh miệng” đôi khi còn đáng sợ hơn văn bản. Cấp dưới không cần được yêu cầu phải đi tới đâu; họ tự đoán giới hạn, tự nâng mức độ quyết liệt và tìm cách chứng minh rằng mình trung thành hơn, cảnh giác hơn, kiên định hơn người khác.

Đó chính là mảnh đất sinh ra “kiêu binh”: Một thứ kiêu ngạo của những người tin rằng họ đang đứng ở phía duy nhất đúng của lịch sử, được quyền phán xét người khác nhân danh quá khứ, biểu tượng và lòng trung thành. Họ không chỉ bảo vệ một quan điểm. Họ tự đặt mình vào vị trí người canh giữ chân lý, từ đó coi mọi cách đọc khác, mọi ký ức khác và mọi cố gắng nhìn lại lịch sử đều có thể là biểu hiện của suy thoái, phản bội hoặc “lật sử.”

Vụ Chuyện với Thanh cho thấy mô thức ấy chưa hề biến mất (3). Cuốn sách ban đầu được giới thiệu rộng rãi, được nhiều cơ quan báo chí và một số nhân vật văn hóa đánh giá tích cực. Nguyễn Quang Thiều từng công khai khuyến nghị người trẻ đọc tác phẩm. Nhưng sau khi làn sóng lên án xuất hiện, nhiều bài báo đã bị gỡ bỏ; Nhà xuất bản Hội Nhà văn bị xử phạt, đình chỉ hoạt động và buộc tiêu hủy sách; rồi cuộc tranh luận nhanh chóng chuyển thành một chiến dịch truy tìm trách nhiệm của những người từng giới thiệu, biên tập hoặc bày tỏ thiện cảm với cuốn sách.

Đáng chú ý hơn, làn sóng ấy không dừng lại ở tác giả Nguyễn Thành Nam. Trong những ngày gần đây, một số tài khoản và kênh mạng xã hội đã lôi lại tiểu thuyết Đức Thánh Trần của nhà văn Trần Thanh Cảnh, đặt nó bên cạnh Chuyện với ThanhNỗi buồn chiến tranh, rồi sử dụng những trích đoạn gây tranh cãi để quy kết một xu hướng “xuyên tạc lịch sử” trong văn học. Từ phê phán một cuốn sách, họ mở rộng sang xét lại nhiều tác phẩm đã xuất bản từ trước; từ công kích tác giả, họ chuyển sang đòi xử lý Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, vì vai trò của ông trong đời sống xuất bản và vì những nhận xét tích cực trước đây đối với Chuyện với Thanh.

Chưa có đủ bằng chứng công khai để khẳng định toàn bộ các hoạt động ấy được tổ chức từ một trung tâm hay theo một mệnh lệnh thống nhất. Nhưng khuynh hướng của nó đã khá rõ: Vụ án một cuốn sách đang được dùng làm bàn đạp để mở rộng phạm vi thanh lọc, gây sức ép lên Hội Nhà văn và tiến tới hạ bệ một nhân vật đang giữ vị trí quan trọng trong đời sống văn chương chính thống. Nguyễn Quang Thiều trở thành mục tiêu không hẳn vì ông là người viết Chuyện với Thanh hay Đức Thánh Trần, mà vì ông tượng trưng cho một không gian văn học còn cố gắng mở cửa cho những cách thể hiện khác nhau về lịch sử và con người.

Bởi vậy, gọi đây chỉ là sự quá khích tự phát của một nhóm “bò đỏ” có lẽ vẫn chưa đủ. Đằng sau nó là một cơ chế chính trị và tâm lý đã tồn tại dai dẳng: Khi quyền xác định chân lý tập trung vào một phía, mỗi người đều có động cơ chứng minh rằng mình bảo vệ chân lý ấy quyết liệt hơn người khác. Càng thiếu những giới hạn pháp lý rõ ràng, phong trào càng dễ vượt khỏi phạm vi ban đầu. Càng thiếu tự do tư tưởng và các thiết chế tranh luận độc lập, phê bình càng dễ biến thành đấu tố, còn bảo vệ lịch sử càng dễ biến thành săn lùng những người có cách nhìn khác.

Vì thế, “kiêu binh” không tự nhiên sinh ra từ mạng xã hội. Mạng xã hội chỉ cung cấp cho nó một tốc độ mới và một quy mô mới. Cội nguồn sâu xa hơn nằm trong một truyền thống quản trị vẫn thường xuyên dùng tư duy chiến tuyến để giải quyết những khác biệt của thời bình. Khi mọi bất đồng đều có thể bị chuyển hóa thành câu hỏi “ai đứng về phía nào,” xã hội sẽ không bao giờ thực sự bước ra khỏi chiến tranh, cho dù tiếng súng đã im từ nhiều thập niên trước.

2. Muốn dẹp “kiêu bình,” phải từ bỏ tham vọng độc quyền chân lý

Nhìn lại toàn bộ diễn biến từ Chuyện với Thanh đến những cuộc công kích đang lan sang Đức Thánh Trần, Nỗi buồn chiến tranh và cả Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Nguyễn Quang Thiều, có thể thấy đây không còn là câu chuyện của một cuốn sách hay một vài tác giả. Điều đang được thử thách chính là khả năng của một xã hội chấp nhận sự khác biệt trong cách nhìn về lịch sử và con người.

Chỉ thị 07 có thể góp phần chấn chỉnh kỷ luật trong hệ thống. Nhưng sẽ rất khó kỳ vọng bất kỳ chỉ thị nào có thể chấm dứt một hiện tượng được nuôi dưỡng bởi chính cơ chế vận hành của đời sống tư tưởng (4). Khi việc bảo vệ một biểu tượng được đồng nhất với việc triệt tiêu mọi cách diễn giải khác, khi phản biện dễ bị quy thành chống đối, còn lòng trung thành được đo bằng mức độ quyết liệt trong việc lên án người khác, thì “kiêu binh” sẽ còn tự tái sinh dưới những hình thức mới.

Đó là lý do câu hỏi đặt ra không phải Chỉ thị 07 có đủ nghiêm hay không, mà là vì sao sau rất nhiều nghị quyết, quy định và chỉ thị về xây dựng đảng, những hiện tượng như vậy vẫn liên tục lặp lại. Nếu nguyên nhân chỉ nằm ở một vài cá nhân quá khích thì xử lý cá nhân là đủ. Nhưng nếu nguyên nhân nằm ở một cơ chế luôn khuyến khích người ta chứng minh lòng trung thành bằng cách đoán ý cấp trên và giành lấy quyền phán xét người khác, thì mọi giải pháp thuần túy hành chính sẽ chỉ xử lý được phần ngọn.

Một nhà nước hiện đại không mạnh vì độc quyền chân lý. Sức mạnh của nhà nước nằm ở khả năng tạo lập những thiết chế để các quan điểm khác nhau được kiểm nghiệm bằng tranh luận công khai, bằng pháp luật và bằng trách nhiệm giải trình (5). Chính tự do tư tưởng tạo điều kiện cho chân lý được phát hiện. Chính nhà nước pháp quyền tạo ra giới hạn mà không ai được phép vượt qua, dù nhân danh bất kỳ lý tưởng nào. Và chính xã hội dân sự giúp hấp thụ những khác biệt trước khi chúng biến thành đối đầu chính trị.

Lịch sử cho thấy, những xã hội phát triển bền vững không phải là những xã hội không có tranh luận, mà là những xã hội biết quản trị tranh luận bằng luật pháp thay vì bằng các chiến dịch. Muốn chấm dứt tình trạng “kiêu binh,” trước hết phải chấm dứt tư duy độc quyền chân lý. Chừng nào chân lý vẫn được mặc nhiên trao cho một nhóm người hoặc một hệ tư tưởng duy nhất, chừng đó sẽ còn những “cuộc săn lùng phù thủy,” những “vụ án văn chương” mới và những Chỉ thị 07 mới.

Bởi vậy, câu hỏi của bài viết này có lẽ sẽ còn ở lại rất lâu sau khi những tranh cãi hiện nay lắng xuống: Một quốc gia cần bao nhiêu Chỉ thị 07 nữa để giải quyết một vấn đề mà gốc rễ của nó không nằm ở sự thiếu kỷ luật, mà nằm ở việc thiếu những nền tảng thể chế cho phép xã hội chung sống với sự khác biệt?

Tham khảo:

(1) https://baochinhphu.vn/chi-thi-07-ct-tw-day-manh-hoc-tap-thuc-hanh-tu-tuong-dao-duc-phuong-phap-phong-cach-ho-chi-minh-trong-giai-doan-phat-trien-moi-102260717102802319.htm

(2) https://baotiengdan.com/2026/07/22/an-van-ky-6-nhac-si-le-lan-va-ca-khuc-khoc-lanh-tu/

• Án văn – Kỳ 6: Nhạc sĩ Lê Lan và ca khúc khóc lãnh tụ

• Án văn – Kỳ 5: Vòng trắng và Sẹo đất

• Án văn – Kỳ 4: Hai trận tuyến, Phá vây, Nhãn đầu mùa

• Án văn – Kỳ 3: Việt Phương và Hoàng Cát

• Án văn – Kỳ 2: Chuyện cũ như mới

• Án văn – Kỳ 1: Xưa và nay đều bi thảm

(3) https://thekymoi.media/ly-thai-hung-bo-may-tuyen-truyen-cua-nha-nuoc-viet-nam-da-that-bai-ra-sao-trong-vu-xu-ly-chuyen-voi-thanh-32427/

(4) https://thekymoi.media/hoang-truong-khi-bon-buoc-chuyen-chien-luoc-gap-con-song-than-dau-to-tren-toan-quoc-32430/

(5) https://plato.stanford.edu/entries/habermas/

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” từng được ra mắt tại trụ sở Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam. Ảnh: NXB Hội Nhà văn Việt Nam

Cần “lật sử” (!) và “xuyên tạc lịch sử,” “xúc phạm lãnh tụ” ư?

Hiểu quá khứ để rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước và của mỗi người chúng ta. Chính vì thế việc viết lại các chuyện kể lịch sử và việc đánh giá lại các nhân vật lịch sử là chuyện thường xuyên phải làm của các nhà sử học, cũng như là quyền của mỗi người quan tâm đến lịch sử, và không thể vin vào “sự xuyên tạc lịch sử,” hay “sự xúc phạm lãnh tụ” để “đấu tố” hay  “lên án” họ nhất là để truy tố họ.

Khi “bốn bước chuyển chiến lược” gặp cơn sóng thần đấu tố trên toàn quốc

Điều đang diễn ra tại Việt Nam là một dạng “Cách mạng Văn hóa kỹ thuật số,” Hồng vệ binh không còn đeo băng đỏ mà ẩn sau tài khoản mạng; loa phường không chỉ treo trên cột điện mà nằm trong điện thoại của mỗi người; bản án dư luận được ban hành trước khi tranh luận học thuật kịp bắt đầu. Khi cả xã hội được huy động để săn lùng một câu chữ, một cuốn sách hoặc một cách gọi nhân vật lịch sử, mục tiêu thực sự không còn là bảo vệ sự thật. Đó là việc buộc mọi người phải nhìn quá khứ bằng một đôi mắt duy nhất.

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Bộ máy tuyên truyền CSVN đã thất bại ra sao trong vụ xử lý “Chuyện với Thanh”?

Khi một hệ thống dùng quyền lực để thay thế đối thoại, dùng khẩu hiệu để thay thế sự minh bạch, dùng văn kiện để thay thế trách nhiệm, thì đó không phải là biểu hiện của sức mạnh mà là dấu hiệu của sự lúng túng. Câu chuyện lớn hơn sau vụ việc này không phải là một cuốn sách mà là câu hỏi về khả năng thích ứng của một hệ thống chính trị trước một xã hội đang thay đổi.

Thánh Thiên Nữ Tướng – Những người Mẹ trầm mình trên sông

Những dòng sông lịch sử như sông Hát, sông Thao, sông Nhật Đức, sông Bạch Hạc… không chỉ chứng kiến những giờ phút cuối cùng của triều đại Trưng Nữ Vương, mà còn là nơi lưu dấu khí phách lẫm liệt của 36 vị nữ tướng. Tiêu biểu là nữ tướng Thánh Thiên, người đến từ vùng ven biển Đông Bắc.