“Canh bạc đô thị” lớn nhất thế kỷ ở Hà Nội: Triệu con người đứng trước câu hỏi “Đất này còn là của chúng tôi không?”

Phối cảnh tuyến monorail đi trên cao bên cạnh đại lộ cảnh quan sông Hồng. Ảnh: Báo Người Lao Động
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Trần Hùng

Giữa những bản phối cảnh lộng lẫy, dàn báo chí quốc doanh quên mất có những con người đang run rẩy cố giữ lấy mái nhà ấm của mình…

Hà Nội đang bước vào một trong những cuộc tái cấu trúc đô thị lớn nhất lịch sử của mình. Những con số được truyền thông trong và ngoài nước liên tục nhắc tới – 28 tỷ USD, 32 tỷ USD, rồi hơn 35 tỷ USD – khiến dự án phát triển hai bờ sông Hồng hiện lên như một “siêu công trình thế kỷ,” một tham vọng đủ sức thay đổi toàn bộ diện mạo thủ đô trong hàng trăm năm tới (1).

Những con số khổng lồ ấy xuất hiện dồn dập trên truyền thông Việt Nam và quốc tế trong thời gian qua khi nói về dự án phát triển “hai bờ sông Hồng” – hay còn được quảng bá bằng một cái tên rất đẹp: “Red River Landscape Boulevard” (2).

Trên báo chí quốc tế, người ta ví nó với “kỳ tích sông Hàn” của Seoul, với những waterfront megaproject ở Singapore hay Thượng Hải. Các bản phối cảnh xuất hiện dày đặc trên truyền thông: Những đại lộ ven sông rực sáng ánh đèn, những khu đô thị hiện đại phủ đầy cây xanh, những công viên trải dài như tranh vẽ (3 & 4).

Nhưng giữa tất cả những hình ảnh lung linh ấy, có một điều gần như biến mất hoàn toàn: Khuôn mặt của người dân đang sống trên chính mảnh đất ấy.

Không tờ báo nhà nước nào đăng hình ảnh một người đàn bà già ôm cuốn sổ đỏ đứng lặng bên mép đê. Không một phóng sự truyền hình nào nói về những gia đình đã sống ba bốn thế hệ ngoài bãi sông đang thức trắng mỗi đêm vì sợ một ngày nào đó họ sẽ bị buộc phải rời đi. Không ai đưa vào bản phối cảnh những đứa trẻ có thể phải rời bỏ ngôi trường quen thuộc, những người nông dân mất đất canh tác, những cộng đồng làng xóm bị cắt vụn bởi các tuyến đại lộ và khu thương mại mới.

Người dân không chống lại phát triển (5). Điều họ sợ không phải là những tòa nhà mới mọc lên. Điều họ sợ là cảm giác mình đang bị đẩy ra ngoài tương lai của chính thành phố mà tổ tiên họ đã sống suốt bao đời.

Sau Thủ Thiêm, người dân không còn đủ kiên nhẫn để im lặng

Trong bức thư ngỏ của người dân vùng bãi sông Hồng gửi tới đảng và nhà nước, điều ám ảnh nhất không chỉ là những con số nghìn tỷ, mà là ký ức hàng chục năm trước về Thủ Thiêm vẫn còn nguyên vẹn (6). Đó là một cái tên khiến hàng triệu người Việt Nam lập tức nhớ tới hơn hai mươi năm khiếu kiện, những khu tái định cư dang dở, những cuộc đời bị bứng khỏi nơi chôn rau cắt rốn và một câu hỏi vẫn còn treo lơ lửng cho đến tận hôm nay: Ai chịu trách nhiệm cho những mất mát ấy?

Bởi vậy, khi một dự án còn lớn hơn Thủ Thiêm nhiều lần được thúc đẩy với tốc độ chóng mặt, người dân có quyền hoảng sợ. Họ có quyền hỏi tại sao mọi thứ lại gấp gáp đến vậy. Họ có quyền đặt câu hỏi vì sao một dự án có thể ảnh hưởng tới gần một triệu con người lại chưa trải qua những cuộc tranh luận công khai rộng lớn trong xã hội. Họ có quyền yêu cầu minh bạch khi chính Hiến pháp 2013 quy định việc thu hồi đất phải “thật cần thiết,” phải “công khai, minh bạch,” phải “vì lợi ích quốc gia, công cộng” (7).

Khi một dự án còn lớn hơn Thủ Thiêm nhiều lần được thúc đẩy với tốc độ chóng mặt, người dân có quyền hoảng sợ. Họ có quyền hỏi tại sao mọi thứ lại gấp gáp đến vậy. Họ có quyền đặt câu hỏi vì sao một dự án có thể ảnh hưởng tới gần một triệu con người lại chưa trải qua những cuộc tranh luận công khai rộng lớn trong xã hội.

Và điều khiến người dân bất an hơn cả là cảm giác lịch sử có thể đang lặp lại. Khi những doanh nghiệp từng vướng tranh cãi trong các đại dự án trước đây tiếp tục xuất hiện trong siêu dự án mới, khi các hồ sơ đề xuất với tổng mức đầu tư hàng trăm nghìn tỷ đồng được công bố trước cả khi xã hội có một cuộc phản biện đầy đủ, người dân bắt đầu cảm thấy mình không còn là chủ thể của quy hoạch, mà chỉ là đối tượng phải chấp nhận quy hoạch (8).

Dự án công ích hay thương vụ địa ốc khổng lồ?

Câu hỏi đau đớn nhất mà người dân đặt ra là: Nếu đây là dự án phục vụ lợi ích công cộng, tại sao trong đó lại xuất hiện sân golf, khu biệt thự cao cấp, khu thương mại ven sông và những “phòng khách đô thị” dành cho tầng lớp giàu có?

Một dự án chống ngập, chỉnh trang đô thị và phát triển hạ tầng công cộng là điều xã hội có thể đồng thuận. Nhưng khi quyền lực thu hồi đất của Nhà nước được sử dụng để tạo ra những quỹ đất vàng khổng lồ cho hoạt động thương mại, ranh giới giữa “lợi ích công cộng” và “lợi ích nhóm” bắt đầu trở nên đáng ngờ trong mắt người dân.

Đó là lý do bức thư ngỏ của cư dân vùng bãi sông Hồng xoáy sâu vào Điều 127 Luật Đất đai 2024 – quy định rằng đối với dự án nhà ở thương mại, doanh nghiệp phải tự thỏa thuận với người dân theo giá thị trường, chứ Nhà nước không được đứng ra thu hồi hộ. Bởi nếu những khu biệt thự, khu đô thị cao cấp và sân golf kia thực chất là các dự án kinh doanh thương mại, thì người dân có quyền đặt câu hỏi: Tại sao quyền lực công lại được dùng để phục vụ lợi ích tư? (9)

Đó không còn chỉ là câu chuyện quy hoạch. Đó là câu chuyện đạo lý.

Một nhà nước pháp quyền không thể để người dân có cảm giác rằng luật pháp được viết cho dân, còn ngoại lệ thì dành cho những nhóm có quyền lực và quan hệ.

“Đất của tôi là tài sản của tôi hay của nhà đầu tư?”

Trong toàn bộ những câu hỏi người dân nêu ra, có lẽ không câu nào gây nhói lòng hơn câu hỏi ấy.

“Mảnh đất có tên tôi trong sổ đỏ – đó là tài sản của tôi hay là tài sản của nhà đầu tư?”

Đó là câu hỏi không chỉ của người dân ven sông Hồng. Đó là câu hỏi âm ỉ suốt nhiều năm qua trong xã hội Việt Nam mỗi khi xuất hiện các đại dự án gắn với giải tỏa và tái định cư.

Người dân nhìn thấy một nghịch lý đau đớn: Họ sống trên mảnh đất ấy hàng chục năm, đóng thuế, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, nhưng đến khi giá trị đất tăng lên nhờ quy hoạch, phần giá trị gia tăng khổng lồ ấy lại không thuộc về họ. Họ có thể nhận vài khoản bồi thường không đủ để mua lại một căn hộ ngay trên chính nền đất cũ của mình, trong khi những khu đô thị mới sau đó được bán với giá hàng trăm triệu đồng mỗi mét vuông.

Cảm giác mất mát lớn nhất không chỉ là mất nhà. Đó là cảm giác bị loại khỏi tương lai của chính nơi mình từng thuộc về.

Sông Hồng không phải tranh quảng cáo bất động sản

Trong khi truyền thông ngập tràn những hình ảnh “Hà Nội ven sông hiện đại,” giới chuyên môn lại đặt ra một câu hỏi rất căn bản: Chuyện gì sẽ xảy ra khi lũ về?

Kiến trúc sư Dương Quốc Chính đã nhắc đến điều mà gần như không ai muốn nói tới: Mọi bản phối cảnh đều đẹp vào mùa khô, nhưng không ai cho thấy thành phố ấy sẽ tồn tại ra sao khi nước sông dâng cao.

Đó không phải chi tiết kỹ thuật nhỏ. Đó là vấn đề sống còn.

Sông Hồng là hệ thống thủy văn phức tạp bậc nhất miền Bắc. Một đô thị ngoài đê không thể được quy hoạch như một khu bất động sản thông thường. Nó buộc phải mang tư duy “sống chung với lũ” – đồng nghĩa với chi phí hạ tầng khổng lồ, thiết kế đặc biệt, vật liệu chịu ngập, giao thông cứu hộ, khả năng phục hồi sau lũ và những bài toán mà ngay cả các quốc gia giàu có cũng phải cực kỳ thận trọng.

Nếu không trả lời trung thực những câu hỏi ấy, thì những đại lộ ven sông hôm nay rất có thể sẽ trở thành biểu tượng của sự duy ý chí ngày mai.

Nhà nước tử tế là nhà nước dám đối thoại với dân

Điều đáng chú ý nhất trong thư ngỏ của người dân không phải giọng điệu giận dữ. Mà là việc họ viện dẫn pháp luật. Họ viện dẫn Hiến pháp 2013. Họ nói về Luật Đất đai 2024. Họ nói về Luật PPP và Luật Thủ đô.

Điều đó cho thấy người dân hôm nay không còn muốn sống trong tâm thế cầu xin. Họ muốn được đối thoại bằng tư cách công dân.

Một nhà nước pháp quyền không thể chỉ mạnh trong việc cưỡng chế. Nó phải tử tế ở khả năng minh bạch, ở năng lực giải trình, ở sự dũng cảm đối diện với phản biện xã hội.

Nếu dự án thực sự vì lợi ích quốc gia, hãy công khai toàn bộ hồ sơ quy hoạch. Nếu tổng mức đầu tư hợp lý, hãy để Kiểm toán Nhà nước thẩm định độc lập. Nếu việc thu hồi đất là đúng luật, hãy để người dân được phản biện công khai mà không bị xem như lực cản của phát triển.

Bởi cuối cùng, một thành phố không thể được gọi là văn minh nếu sự hiện đại của nó được xây dựng trên nỗi bất an của chính người dân mình.

Và Hà Nội – thủ đô ngàn năm văn hiến – càng không thể bước vào tương lai bằng cách khiến hàng triệu con người cảm thấy đang bị bỏ lại phía sau ngay trên mảnh đất tổ tiên của họ (10).

Tham khảo:

(1) https://vietnamnet.vn/en/hanoi-approves-nearly-28-bln-usd-red-river-landscape-boulevard-project-2515296.html

(2) https://english.thesaigontimes.vn/hanoi-approves-us28-billion-red-river-project/

(3) https://www.businesstimes.com.sg/international/asean/chasing-seouls-han-river-miracle-inside-hanois-736-9-trillion-dong-red-river-bet

(4) https://urbanland.uli.org/planning-design/planning-for-more-sustainable-flood-protection-plan-in-hanoi

(5, 6 &7) https://baotiengdan.com/2026/05/18/thu-ngo-gui-dang-va-nha-nuoc/

(8) https://thuonggiaonline.vn/hai-tay-choi-lon-rut-lui-dai-quang-minh-cua-ong-khoa-khan-linh-xuong-lien-danh-sieu-du-an-855000-ty-dong-post565921.html

(9) https://baotiengdan.com/2026/05/18/thu-ngo-gui-dang-va-nha-nuoc/

(10) https://baotiengdan.com/2026/05/19/tieng-oan-giua-long-thu-do-khi-nguoi-dan-ha-noi-bat-dau-hieu-noi-dau-dan-oan/

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Ảnh minh họa: Dự án Khu dân cư Tân Thịnh, Trảng Bom (Đồng Nai)

Nợ xấu bất động sản ở Việt Nam là “sự mục nát kéo dài” như ở Trung Quốc?

Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một thử thách lớn về nợ xấu, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản, với những điểm tương đồng “Sự mục nát kéo dài” (Prolonged Decay) ở Trung Quốc.

Tuy khác nhau về quy mô và cách thức xử lý, nhưng nếu không có các biện pháp quyết liệt và thực chất, Việt Nam có nguy cơ đối mặt với một giai đoạn tăng trưởng chậm và năng suất thấp do dòng vốn không được lưu thông hiệu quả.

Bản lên tiếng của đảng Việt Tân: Chế độ Tô Lâm đang khủng bố nội địa và khủng bố xuyên quốc gia

Trong hai năm qua, tình trạng đàn áp dưới chế độ Tô Lâm đối với người dân trong nước cũng như cộng đồng người Việt tại hải ngoại ngày càng nghiêm trọng. Đảng Việt Tân khẩn báo trước công luận về những hành vi khủng bố có hệ thống này của nhà cầm quyền CSVN.

Steffen Seibert, từ bình luận viên truyền hình thành trợ lý Thủ tướng Đức Merkel

Truyền thông độc lập (bài 3)

Việc giải thể một loạt kênh truyền hình nhà nước gần đây khiến nhiều nhà báo lập ra một số kênh Youtube có ảnh hưởng. Sớm hay muộn, truyền thông tư nhân sẽ hình thành, dù lúc đầu phải ẩn nấp.

Nhưng “truyền thông công cộng” là một sản phẩm của nền dân chủ tự do thì sẽ còn rất lâu mới xuất hiện ở Việt Nam. Nó không phụ thuộc vào cấu trúc nền kinh tế, mà vào ý thức dân chủ của giới tinh hoa và lãnh đạo.

Thấy gì từ hai cuộc gặp thượng đỉnh liên tục của các cường quốc tại Bắc Kinh?

Trước thềm hội nghị thượng đỉnh Vladimir Putin – Tập Cận Bình, Claus Soong thuộc Viện Nghiên cứu Trung Quốc Mercator tại Đức nói với Deutsch Welt (dw.com) rằng cục diện địa chính trị hiện nay đã đặt Bắc Kinh vào một vị thế thuận lợi.

Cả Hoa Kỳ lẫn Nga hiện đều cần Trung Quốc, dù theo những cách đối lập nhau: Washington coi Bắc Kinh là đối thủ chiến lược, trong khi Matxcơva muốn có một đối tác có lợi ích địa chính trị và năng lượng tương đồng.