Cầu lời nói thẳng

Cổng lên đền thờ các Vua Hùng. Ảnh: Báo Phú Thọ
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Tạ Duy Anh

(Nhân vụ báo Phú Thọ (và một vài báo khác a dua theo) quy kết những người góp ý kiến là phản động, xin đăng lại.)

Đọc lịch sử, thấy có điều này: Từ khi quốc gia độc lập với phương Bắc, triều đại phong kiến nào cũng không nhiều thì ít, đều có ban chiếu CẦU LỜI NÓI THẲNG. Ngay như triều nhà Hồ, vốn vẫn bị chính sử coi là “ngụy,” là tiếm ngôi, nhưng khi lên làm vua, Hồ Hán Thương cũng không quên xuống chiếu cầu lời nói thẳng.

Kỷ lục về cầu lời nói thẳng, có lẽ thuộc về triều Hậu Lê. Chỉ riêng thời Lê Thái Tông, ở ngôi 9 năm, hầu như năm nào cũng xuống chiếu cầu mong các đại thần chỉ cho ông lầm lỗi, kém cỏi chỗ nào để sửa mình.

Sang thời Lê Nhân Tông, lên ngôi lúc 2 tuổi, nhiếp chính là Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh, người vẫn nằm trong nghi án giết hại công thần, thế mà cũng không dưới vài lần nhân danh vua xuống chiếu cầu xin được nghe lời nói thẳng, nói thật, để tu thân, trị quốc, đặng có thể an dân.

Tất cả đều bằng những lời lẽ thống thiết.

Nhưng vị vua cầu thị nhất có lẽ là Lê Thánh Tông. Hãy thử đọc lại một vài lời dụ của ông với các quan đại thần.

Dụ các quan tể thần và kinh diên:

“Nay bọn Lê Cảnh Huy, Nguyễn Như Đổ, Phạm Du, khi bàn luận ở triều đình, hay lúc quyết định việc chính trị đều chỉ a dua lấy lòng, hoặc ngậm miệng không nói thì dù có lỗi nhỏ mà khép vào pháp luật cũng đáng; còn như bọn Nguyễn Mậu, Nguyễn Vĩnh Tích, Nguyễn Trạc, Nguyễn Thiện biết lo vua, yêu nước, gặp việc nói hết, thì dù có lỗi lầm mà được khoan thứ cũng là phải. Mới rồi, Nguyễn Mậu nói việc không đúng mà không bị buộc tội, đó là trẫm báo đền cái đức hay nói (thẳng) của Nguyễn Mậu đó.”

Quốc tử giám tế tửu kiêm Văn minh điện đại học sỹ Nguyễn Bá Ký có lần dâng sớ thẳng thừng chê Lê Thánh Tông khi làm văn không chú ý tới kinh, sử, Lê Thánh Tông có dụ rằng:

“Trẫm vừa xem hết tờ sớ, ngươi bảo là trẫm không chú ý kinh, sử, lại chuộng lối học phù hoa, vô dụng, chỉ ý ở ngoài mây khói (…) Ta tự xét mình, xét lời ngươi nói thì trong bốn chữ “phù hoa vô dụng” kia, thực đã gồm cả lòng trung rồi, thế mà ta lại làm văn bia biện lại, thì ta thực có lỗi. Lúc ấy ngươi đã thực lòng can ngăn, chẳng vì thế mà giữ ý.”

Khi Nguyễn Bá Ký chết, Lê Thánh Tông sai Tư lễ giám quan Phạm Hổ đem sắc đến dụ rằng:

“Ngươi thờ vua trung thành, giữ mình chính trực, sớm tối ở bên ta, nay được 6 năm, lúc thoi thóp rồi mà lòng trung vẫn chưa thôi.”

Trong 38 năm ở ngôi vua, rất nhiều lần Lê Thánh Tông ban riêng bạc nén (có lúc lên tới 10 lạng) cho người dám nói thẳng với ông, hoặc can ngăn ông làm những việc không phải, luôn kèm theo lời dụ: “ĐỪNG QUÊN NÓI THẲNG VỚI TRẪM.”

Thứ mà Lê Thánh Tông ghét nhất là thói xu nịnh. Ngài từng mắng một quan đại thần quen xu nịnh là “Con lang già giẫm yếm xéo đuôi, liếm trôn, hút mủ…”

Xem thế đủ thấy lời nói thẳng, cùng với đó là người dám nói thẳng quý hiếm và quan trọng biết nhường nào, đến việc an nguy, hưng thịnh của của xã tắc.

Xét kỹ: Triều đình nào mà nhung nhúc kẻ a dua, chỉ quen nhắc lại lời chủ, trong khi người chính trực dám nói thẳng thì hoặc bỏ về núi trí sĩ, hoặc bị coi là phá hoại, nặng hơn thì tống vào ngục thất… triều đại đó đã mục nát từ xương tủy rồi, chỉ còn chờ ngày cáo chung để nhận những lời nguyền rủa nữa thôi.

Câu quy kết những người góp ý kiến là phản động, đăng trên báo Phú Thọ (https://baophutho.vn/tuong-dai-bac-ho-tai-den-hung-bieu-tuong-hoa-quyen-giua-coi-nguon-dan-toc-va-thoi-dai-ho-chi-minh-242292.htm) – nay đã [bị] xóa.

Nguồn: Văn Việt

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”