Nhật Ngôn
Một xã hội chọn con đường chính trị sẽ đứng vững trên nền tảng tự do, công lý và quyền con người. Một xã hội rơi vào ngụy trị sẽ tự lừa dối chính mình, cho đến khi lớp vỏ pháp lý không che nổi bản chất cướp đoạt nữa.
Hai bản tuyên ngôn cách nhau 169 năm. Cùng xuất phát từ thân phận thuộc địa. Cùng viện dẫn tự do và độc lập như lý tưởng tối thượng. Nhưng dòng chảy lịch sử đã chứng minh: Một bản gìn giữ quyền con người, một bản tận diệt chính những quyền nó vừa viện dẫn để tuyên xưng. Sự khác biệt không nằm ở lời mở đầu hoa mỹ. Nó nằm ở cam kết và trao quyền thay đổi, lật đổ chính quyền cho người dân.
I. Tuyên ngôn 4/7/1776: Trả lời cả 3 câu hỏi cốt lõi
Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ viết: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa ban cho họ những quyền bất khả xâm phạm: Quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”
Quan trọng hơn, văn bản này trả lời trọn vẹn 3 câu hỏi quyền lực:
1, Ai bảo vệ các quyền?
– Chính quyền được lập ra từ sự ủy thác của nhân dân, với mục đích duy nhất là bảo vệ các quyền đó.
2. Ai kiểm soát người được giao phó?
– Cơ chế phân quyền, đối lập và giám sát. Không ai được đứng trên luật.
3. Khi người bảo vệ trở thành kẻ xâm hại thì sao?
– Nhân dân có quyền, và nghĩa vụ, thay đổi hoặc bãi bỏ chính quyền đó để lập ra chính quyền mới.
Vì có cơ chế thu hồi quyền lực, nên quyền lực ở đây chỉ là công cụ. Nó không thể tự biến thành mục tiêu.
II. Tuyên ngôn 2/9/1945: Chỉ hứa, không có cơ chế
Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam mở đầu bằng việc trích dẫn nguyên văn những nguyên tắc bất hủ của Mỹ và Pháp. Rồi nó kết thúc bằng đao to búa lớn rằng: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.”
Nhưng sau lời trích dẫn đó, toàn bộ văn bản không trả lời 2 câu hỏi then chốt:
Ai sẽ bảo vệ những quyền thiêng liêng ấy? Và khi chính quyền được giao phó bảo vệ lại trở thành kẻ xâm phạm, thì người dân có quyền gì? Thay vào đó chỉ có một lời hứa một chiều: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”
Không điều kiện. Không giám sát. Không quyền thay đổi. Hệ quả là ngay sau khi nắm quyền, chính thực thể ban hành tuyên ngôn đã đi ngược lại những nguyên tắc nó vừa viện dẫn. Đó không còn là chính quyền. Đó là ngụy quyền: Quyền lực ngụy danh, sinh ra từ sự cướp đoạt, và do đó phi pháp ngay từ gốc.
Từ đây, lịch sử rẽ thành hai bản chất cai trị đối lập.
III. Chính trị: Quyền lực là công cụ để phục vụ công lý
Chính trị chân chính xuất phát từ sự đồng thuận thực sự. Nó được giao phó để quản trị chung trên nền tảng công lý. Lord Acton đã cảnh báo từ thế kỷ 19: “Quyền lực có xu hướng làm tha hóa; quyền lực tuyệt đối làm tha hóa tuyệt đối.” Hiểu được điều đó nên chính trị lành mạnh chủ động phân quyền, đối lập và kiểm soát. Sự đa nguyên không bị xem là cản trở mà là bằng chứng của xã hội tự do. Luật pháp được tạo ra để bảo vệ mọi người một cách bình đẳng. Ở đây, người nắm quyền có thể bị người dân tước quyền bất cứ lúc nào. Vì quyền lực không thuộc về họ. Quyền lực chỉ được mượn. Và không một cá nhân hay tổ chức chính trị nào nắm giữ quyền lực trong một thời gian quá dài.
VI. Ngụy trị: Quyền lực là mục tiêu để duy trì thống trị
Ngụy trị cũng nói về đồng thuận, về lợi ích chung, về độc lập. Nhưng đó chỉ là tuyên truyền mị dân được lặp đi lặp lại. Bản chất của nó là sở hữu quyền lực tuyệt đối: Không chia sẻ, không giám sát, không thể thay đổi. Nó không dung thứ đối lập và luôn dập tắt tiếng nói khác biệt.
Khi không còn ai kiểm soát, chuỗi hệ quả tất yếu xảy ra: Tự do bị thu hẹp, luật pháp bị uốn nắn theo ý người cầm quyền, công lý bị đẩy ra ngoài lề. “Sự đồng thuận” trở thành khẩu hiệu được lặp lại, trong khi người dân không có quyền tự do lựa chọn nào.
Ở đây, quyền lực là để phục vụ cho quyền lợi của nhóm nắm giữ nó. Vì thế kẻ cầm quyền phải dùng mọi thủ đoạn để ngăn nguy cơ bị người dân thu hồi quyền.
V. Bước cuối: Khi luật pháp trở thành công cụ cướp đoạt
Đây là giai đoạn hoàn thiện của ngụy trị. Frédéric Bastiat đã chỉ ra rất sớm:
– “Khi việc cướp bóc trở thành lối sống của một nhóm người. Với thời gian, nhóm đó sẽ tạo ra hệ thống pháp luật để cho phép họ ăn cướp, và tạo ra hệ luân lý để vinh danh việc cướp bóc.”
– Luật pháp không còn bảo vệ mọi người. Nó chỉ bảo vệ kẻ nắm quyền. Việc tước đoạt được gọi là “giữ gìn trật tự.” Việc chiếm đoạt được gọi là “chính sách.” Mọi hành vi đều được thực hiện “đúng quy trình” do chính họ đặt ra.
Thánh Augustino cách đây 16 thế kỷ đã đúc kết: “Không theo đuổi Công Lý, thì Nhà nước là gì nếu không phải là một băng đảng lớn của những tên trộm cướp?
Khác biệt duy nhất là: Băng đảng thường bị truy nã. Còn băng đảng nắm quyền thì dùng chính pháp luật để hợp pháp hóa tội ác của mình.
VI. Kết luận: Phép thử của phản sự thật
Dùng phương pháp phân tích phản sự thật: “Nếu không có A thì sẽ không có B.” Nếu không có cơ chế để nhân dân thu hồi quyền lực, thì lời hứa bảo vệ quyền sẽ không có giá trị. Nếu không có phân quyền và đối lập, thì quyền lực tuyệt đối sẽ tha hóa tuyệt đối. Nếu không có tự do thực sự cho công dân, thì độc lập quốc gia chỉ là cái vỏ che đậy sự lệ thuộc vào ngoại bang.
Benjamin Franklin đã nói: “Những kẻ sẵn sàng từ bỏ tự do thiết yếu để mua lấy chút an toàn tạm thời thì không xứng đáng có cả tự do lẫn an toàn.”
Một xã hội chọn con đường chính trị sẽ đứng vững trên nền tảng tự do, công lý và quyền con người. Một xã hội rơi vào ngụy trị sẽ tự lừa dối chính mình, cho đến khi lớp vỏ pháp lý không che nổi bản chất cướp đoạt nữa. Lời hứa không kèm cơ chế bảo vệ không phải là khế ước. Đó chỉ là sự trao gửi một chiều, rất dễ bị phản bội. Và khi người dân không có quyền thay đổi hay lật đổ, thì người dân đã bị bắt buộc phải sống trong thân phận kẻ nô lệ dưới ách cai trị độc tài tàn bạo hơn ách cai trị của chế độ thực dân.
Nguồn: Việt Nam Thời Báo



