Chuyện thật như bịa: Việt Cộng ‘tiếp đạn’ cho Việt Tân (Phần I)

Một cuộc họp của Ủy Ban Châu Âu, Tháng Giêng 2025. Ảnh minh họa: Martin Bertrand/ Hans Lucas/Hans Lucas via AFP
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Trân Văn

Cách nay vài ngày, hôm 16 Tháng Sáu, 2026, tại Strasbourg (Pháp), Nghị Viện Châu Âu (European Parliament – EP) đã thông qua nghị quyết thứ hai về việc đàn áp xuyên quốc gia, thúc giục các thể chế và chính phủ Liên Minh Châu Âu hành động để chấm dứt tình trạng này.

Đàn áp xuyên quốc gia là những biện pháp mà một quốc gia dùng để đe dọa những người chỉ trích chính phủ của quốc gia đó, đặc biệt là những công dân hoặc cá nhân từng là công dân của quốc gia đó đang ở bên ngoài biên giới và vượt ra ngoài quyền tài phán lãnh thổ của quốc gia thực hiện hành vi đàn áp.

Đàn áp xuyên quốc gia (Transnational Repression – TNR) bao gồm cả quấy rối trực tuyến, giám sát, từ chối cung cấp dịch vụ lãnh sự, quấy rối thân nhân ở quê nhà, và yêu cầu dẫn độ mang tính lạm dụng nhằm gây sợ hãi trên diện rộng. Tồi tệ nhất trong đàn áp xuyên quốc gia là tổ chức giết người, tấn công và bắt cóc do các đặc vụ hoặc tay sai của chính phủ thực hiện.

Cuối năm ngoái (Tháng Mười Một, 2025), Nghị Viện Châu Âu từng thông qua nghị quyết đầu tiên về đàn áp xuyên quốc gia, xác định mười quốc gia đã thực hiện loại hành vi này (TNR): Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Tajikistan, Nga, Ai Cập, Cambodia, Turkmenistan, Uzbekistan, Iran, Belarus.

Trong hai nghị quyết vừa đề cập, Nghị Viện Châu Âu vạch ra một lộ trình để Ủy Ban Châu Âu (European Commission – EC) và chính phủ các quốc gia thành viên EU xem xét. Nếu được tán thành, hậu quả cụ thể mà một quốc gia hoặc tổ chức, cá nhân bị xem là có liên quan phải đối mặt khi bị xác định là TNR sẽ là:

Trừng phạt cá nhân bằng cách đóng băng tài sản, cấm nhập cảnh: Nghị quyết kêu gọi Ủy Ban Châu Âu và Cơ Quan Hành Động Đối Ngoại Châu Âu (European External Action Service – EEAS) bảo đảm những cá nhân và tổ chức tham gia TNR phải bị đưa vào danh sách cần áp dụng cơ chế trừng phạt nhân quyền toàn cầu của EU (EU Magnitsky Act) và dùng TNR làm căn cứ để chỉ định trừng phạt theo cơ chế sắp tới của EU về tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Đây là công cụ trực tiếp nhắm vào những cá nhân cụ thể – những viên chức dính líu đến TNR.

Trục xuất ngoại giao, cấm nhập cảnh: Các quốc gia thành viên của EU được kêu gọi tiến hành thẩm định xem các viên chức ngoại giao, từ nhân viên, phiên dịch viên đến những cá nhân vận động hành lang có liên quan đến TNR hay không trước khi công nhận. Đồng thời áp đặt các biện pháp như trục xuất, cấm nhập cảnh hoặc đình chỉ công nhận ngoại giao nếu đương sự có dính líu đến TNR. Họ còn được thúc giục rà soát, thu hồi giấy phép cư trú liên quan đến đầu tư của những cá nhân có liên hệ với các chế độ hoặc mạng lưới được xác định là thực hiện TNR.

Ủy Ban Châu Âu và EEAS được kêu gọi đưa các điều kiện nhằm ngăn chặn việc lạm dụng hợp tác đa phương và song phương trong các vấn đề hình sự liên quan đến TNR vào các hiệp định và khuôn khổ hợp tác quốc tế, bao gồm cả khả năng đình chỉ việc thi hành. Đồng thời, cần xem xét một cách có hệ thống các rủi ro TNR khi chuẩn bị các thỏa thuận tài trợ, hợp tác và đối tác với các quốc gia ngoài EU.

Ủy Ban Châu Âu được kêu gọi đưa TNR vào báo cáo pháp quyền và báo cáo mở rộng của cơ quan này. Đồng thời, Ủy ban và EEAS được kêu gọi công bố báo cáo thường niên về TNR ảnh hưởng đến EU, đánh giá xu hướng, mô hình và các rủi ro mới nổi. Đây là cơ chế giám sát liên tục, không phải một lần.

Ủy Ban Châu Âu cũng được kêu gọi xem xét đình chỉ hợp tác trong các trường hợp có dấu hiệu đáng lo ngại về thủ tục tố tụng công bằng hoặc khi sử dụng bản án vắng mặt, từ chối công nhận hoặc hỗ trợ các yêu cầu xuất phát từ các quốc gia thủ phạm cho đến khi độc lập tư pháp được khôi phục. Đó là chưa kể các cơ quan thực thi pháp luật và tư pháp tại Châu Âu được kêu gọi điều tra và truy tố các hành vi TNR đạt đến mức cấu thành tội ác chống nhân loại theo Quy Chế Rome. Đây là mức độ cao nhất có thể dẫn đến việc Tòa Án Hình Sự Quốc Tế (ICC) nhập cuộc.

Ngoài việc đề ra những biện pháp nhằm trừng phạt các chính phủ, những viên chức dính líu đến TNR, các nghị quyết liên quan đến đàn áp xuyên quốc gia của Nghị Viện Châu Âu còn nhắm đến sự dính líu tới TNR của doanh giới. Các quốc gia thành viên của EU được kêu gọi thiết lập trách nhiệm pháp lý rõ ràng đối với cá nhân và tổ chức cố ý tiếp tay hoặc trục lợi từ các hành vi TNR, đồng thời kêu gọi thực thi hiệu quả nghĩa vụ thẩm định nhân quyền của doanh nghiệp. Doanh nghiệp Châu Âu sẽ phải hết sức thận trọng vì có thể phải đối mặt với hậu quả nặng nề nếu bị xác định là hợp tác với các tổ chức bị nghi ngờ có liên quan đến TNR. Nghị Viện Châu Âu kêu gọi các quốc gia thành viên bảo đảm rằng, việc thực hiện hành vi thay mặt cho một thế lực ngoại quốc sẽ bị xem là tình tiết tăng nặng khi tuyên án đối với các tội danh liên quan.

Nếu ghi nhớ thời điểm Nghị Viện Châu Âu nâng TNR thành vấn đề mà Liên Minh Châu Âu cần quan tâm đặc biệt, cũng như cách thức cơ quan này xác định thế nào là TNR, sang phần sau, quý vị có thể dễ dàng nhận ra, Việt Cộng đã “tiếp đạn” cho Việt Tân thế nào… (còn tiếp)

Nguồn: Người Việt

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Dự án đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng tăng vốn 42% trong khi dự án đường sắt East Coast Rail Link (ECRL) ở Malaysia giảm giá 32% sau khi thương lượng lại với phía Trung Quốc

Malasia giảm giá 32%, Việt Nam tăng vốn 42%: Hai đường ray, hai năng lực mặc cả với Trung Quốc?

Trong những dự án hạ tầng khổng lồ, năng lực quốc gia không chỉ được đo bằng khả năng huy động hàng trăm nghìn tỷ đồng hay bằng tốc độ “quyết liệt triển khai.” Đôi khi, năng lực quản trị thể hiện ở điều ngược lại: Biết dừng đúng lúc, kiểm tra lại một quyết định và đủ sức buộc đối tác trở lại bàn thương lượng.

Đó là bài học đáng chú ý nhất từ Malaysia.

Ảnh minh họa: Encyclopædia Britannica.Inc

Đông Nam Á trước vấn đề “Một Trung Quốc”

Các chính phủ Đông Nam Á tin rằng họ có thể tách bạch việc thỏa hiệp với Bắc Kinh về Đài Loan với việc tiếp tục phản đối các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông. Tuy nhiên, thói quen coi các yêu cầu của Trung Quốc là “không tốn kém” khi chúng liên quan đến những vấn đề không trực tiếp chạm tới lợi ích quốc gia của mình sẽ mang lại rủi ro dài hạn.

Ảnh minh họa: Tuyên ngôn Độc lập 4/7/1776 (trái) và 2/9/1945

Chính trị và ngụy trị – từ hai bản tuyên ngôn

Hai bản tuyên ngôn cách nhau 169 năm. Cùng xuất phát từ thân phận thuộc địa. Cùng viện dẫn tự do và độc lập như lý tưởng tối thượng. Nhưng dòng chảy lịch sử đã chứng minh: Một bản gìn giữ quyền con người, một bản tận diệt chính những quyền nó vừa viện dẫn để tuyên xưng. Sự khác biệt không nằm ở lời mở đầu hoa mỹ. Nó nằm ở cam kết và trao quyền thay đổi, lật đổ chính quyền cho người dân.

Nhìn lại 25 năm (2001–2026) sau ngày 11/9

Ngày 11/9 không chỉ là một cuộc tấn công khủng bố. Nó đã làm thay đổi tư duy an ninh của Hoa Kỳ, đảo lộn các ưu tiên chiến lược của Washington và mở ra một thời kỳ chiến tranh kéo dài gần hai thập niên.

Một phần tư thế kỷ sau, đã đến lúc đặt một câu hỏi lớn hơn: Hoa Kỳ đã thắng hay thua trong cuộc chiến chống khủng bố? Câu trả lời thật không đơn giản.