Đại hội XIV và giới hạn của ổn định chính trị ở Việt Nam

Cổng Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội nơi diễn ra đại hội XIV của đảng CSVN từ ngày 19 - 25/1/2026. Ảnh: Người Lao Động
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Minh Triết

Khi tính liên tục không đi cùng thích nghi, ổn định có thể trở thành mong manh

Đại hội XIV của đảng Cộng Sản Việt Nam diễn ra trong một thời điểm mang ý nghĩa bản lề.

Đây không chỉ là một sự kiện nhân sự hay một nghi lễ chính trị theo chu kỳ, mà là phép thử âm thầm nhưng quyết định đối với khả năng tự điều chỉnh của một hệ thống quyền lực đã duy trì ổn định trong nhiều thập niên.

Vấn đề đặt ra không đơn thuần là tiếp nối, mà là liệu sự tiếp nối ấy có thể chuyển hóa thành chính danh trong một xã hội đang thay đổi nhanh chóng hay không.

Tính liên tục: Thành tựu và giới hạn

Không thể phủ nhận rằng trong hơn bốn thập niên qua, mô hình cầm quyền hiện nay đã mang lại những kết quả đáng kể.

Việt Nam đã chuyển mình từ một quốc gia hậu chiến, nghèo nàn và bị cô lập trở thành một nền kinh tế trung bình, hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Tăng trưởng kinh tế ổn định, mở rộng thương mại và cải thiện mức sống là những thành tựu gắn liền với môi trường chính trị tương đối ổn định.

Tuy nhiên, lịch sử chính trị cho thấy một nghịch lý quen thuộc: Ổn định, nếu không đi kèm với năng lực thích nghi thể chế, sẽ dần chuyển hóa thành mong manh.

Các hệ thống dựa trên tập trung quyền lực có thể duy trì trật tự trong thời gian dài, nhưng thường gặp khó khăn trong việc tái tạo tính chính danh khi thực tại xã hội biến đổi nhanh hơn cấu trúc chính trị.

Đại hội XIV vì thế diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đã khác xa so với thời điểm thiết lập những nền tảng thể chế hiện nay.

Quốc gia này hiện gắn chặt hơn bao giờ hết với kinh tế toàn cầu, chịu tác động trực tiếp từ cạnh tranh địa chính trị giữa các cường quốc, đồng thời sở hữu một xã hội đa dạng hơn, có trình độ học vấn cao hơn và mức độ kết nối thông tin sâu rộng hơn.

Câu hỏi cốt lõi không phải là ai sẽ lãnh đạo, mà là liệu khung thể chế hiện tại có còn phù hợp với xã hội mà nó đang quản trị hay không.

Thách thức quản trị và khoảng trống chính danh

Trong giai đoạn tới, thách thức trung tâm của Việt Nam không chỉ nằm ở duy trì tăng trưởng, mà ở cách thức quyền lực được thực thi, kiểm soát, tái tạo và hợp thức hóa.

Khi xã hội ngày càng có năng lực phản tư và kỳ vọng cao hơn, chính danh chính trị không thể được duy trì chủ yếu bằng thành tích lịch sử, tăng trưởng kinh tế hay kỷ luật tổ chức, mà đòi hỏi những cơ chế tái tạo chính danh phù hợp với các điều kiện của bối cảnh hiện tại.

Khái niệm “dân chủ trong đảng” từ lâu đã được xem là nguyên tắc vận hành quan trọng nhằm duy trì đồng thuận nội bộ và tránh phân rã phe phái.

Tuy nhiên, dân chủ nội bộ – dù có giá trị về mặt tổ chức – không thể thay thế một cách lâu dài cho cơ chế trách nhiệm giải trình ở cấp độ nhà nước và xã hội.

Khi lựa chọn chính trị bị giới hạn trong không gian nội bộ, hệ thống tự thu hẹp các kênh phản hồi và điều chỉnh chính sách.

Hệ quả không nhất thiết là bất ổn tức thời, mà là sự tích tụ âm thầm của khoảng cách giữa một xã hội năng động và một cấu trúc quyền lực kém linh hoạt.

Khoảng cách này làm suy giảm niềm tin công chúng, hạn chế đổi mới chính sách và làm giảm sức đề kháng của quốc gia trước các cú sốc trong tương lai.

Từ kiểm soát sang năng lực tự tin thể chế

Rủi ro lớn nhất mà Việt Nam đối mặt hiện nay không phải là biến động, mà là trì trệ.

Một hệ thống ưu tiên kiểm soát hơn tham gia có thể duy trì trật tự trong ngắn hạn, nhưng khó theo kịp những biến chuyển thế hệ, công nghệ và địa chính trị trong thế kỷ XXI.

Ổn định bền vững không bắt nguồn từ tính đồng nhất, mà từ sự tự tin thể chế: Niềm tin rằng quyền lực có thể được sửa sai mà không gây khủng hoảng, được thay đổi mà không dẫn đến đổ vỡ, và được chất vấn mà không bị hình sự hóa.

Thích nghi vì thế không phải là lựa chọn, mà là điều kiện sinh tồn của quốc gia hiện đại.

Kinh nghiệm của nhiều xã hội châu Á cho thấy mở rộng không gian chính trị và phát triển kinh tế không loại trừ lẫn nhau.

Đài Loan và Hàn Quốc – từng là các chế độ chuyên quyền – đã thực hiện những chuyển đổi có kiểm soát hướng tới quản trị có trách nhiệm hơn mà vẫn giữ được ổn định, chủ quyền và tăng trưởng.

Việt Nam có bối cảnh riêng, song bài học so sánh là rõ ràng: Chính danh không thể được duy trì vô thời hạn chỉ bằng thủ tục nội bộ.

Đổi mới như một dạng năng lực chống chịu

Triển vọng dài hạn của Việt Nam phụ thuộc vào ba trụ cột gắn kết chặt chẽ với nhau: Quản trị hiệu quả, sự đồng thuận xã hội và đoàn kết quốc gia dựa trên bao dung thay vì loại trừ.

Để đạt được điều đó không cần một sự đứt gãy đột ngột, nhưng đòi hỏi cải cách thể chế thực chất – củng cố pháp quyền, bảo vệ tự do biểu đạt, mở rộng sự tham gia công dân một cách hòa bình và hợp pháp, đồng thời bảo đảm rằng quyền lực cuối cùng phải dựa trên sự chấp thuận của người dân.

Cải cách, nếu được hiểu đúng, không đồng nghĩa với hỗn loạn.

Đó là nghệ thuật trị quốc: Xây dựng các cơ chế an toàn để quyền lực có thể được điều chỉnh mà không sụp đổ, bị thách thức mà không bạo lực, và được tái tạo mà không sợ hãi.

Đó là quá trình chuyển hóa kỷ luật thành chính danh, và ổn định thành niềm tin.

Đại hội XIV, vì vậy, không chỉ là một cột mốc nội bộ của đảng, mà là phép thử đối với năng lực chuyển đổi từ sự thống nhất về thủ tục sang chính danh về nội dung.

Lịch sử Việt Nam cho thấy sức bền của quốc gia không nằm ở sự cứng nhắc, mà ở khả năng tự làm mới khi thực tại đòi hỏi.

Đại hội này sẽ mở ra một giai đoạn chuyển tiếp chiến lược hay chỉ tiếp tục quỹ đạo quen thuộc vẫn là điều chưa thể khẳng định.

Nhưng điều chắc chắn là trong những năm tới, sức mạnh của Việt Nam sẽ phụ thuộc ít hơn vào việc ai nắm quyền, và nhiều hơn vào việc quyền lực đó có thể thích nghi như thế nào với xã hội mà nó tuyên bố đại diện.

Minh Triết
16/1/2026

Nguồn: Tạp chí Thế Kỷ Mới

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Thứ trưởng Bộ Công an Đặng Hồng Đức tại lễ khởi công Dự án xây dựng nhà ở cho lực lượng công an tại Hưng Yên hôm 2 tháng Tám, 2026

Hưng Yên khởi công xây dựng hơn 1.400 căn hộ dành riêng cho công an

“Không thể vì đây là nhà ở xã hội mà hạ thấp các tiêu chuẩn về chất lượng và kiến trúc. Cán bộ, chiến sĩ CAND xứng đáng được sống trong những căn nhà có chất lượng tốt, thiết kế đẹp và môi trường sống văn minh.” Đó là lời phát biểu của Thứ trưởng Bộ Công an, Thượng tướng Đặng Hồng Đức tại lễ khởi công Dự án xây dựng nhà ở cho lực lượng công an tại xã Tân Hưng, tỉnh Hưng Yên diễn ra vào ngày 2 Tháng Tám, 2026.

Điểm nóng mới nhất trong mối quan hệ đang xấu đi giữa Nhật Bản và Trung Quốc là Okinotori – hòn đảo cực nam của Nhật Bản – nơi các tàu hải quân Trung Quốc gần đây đã tiến hành các cuộc tập trận bắn súng máy. Trung Quốc không công nhận Okinotori là một hòn đảo. Ảnh: Nikkei/ nguồn ảnh: Kyodo và Reuters

Tại sao Trung Quốc phủ nhận cuộc gặp với ngoại trưởng Nhật Bản?

Ngày 23/7, một biên đội gồm bốn tàu hải quân Trung Quốc và Nga đã di chuyển về phía bắc qua Thái Bình Dương, ngoài khơi Inubosaki thuộc tỉnh Chiba, giáp Tokyo, trước khi tới vùng biển ngoài khơi Hokkaido, hòn đảo chính nằm ở cực bắc Nhật Bản, hai ngày sau đó.

Trong đội tàu có một tàu khu trục tên lửa Trung Quốc. Trước đó, ngày 19/07, con tàu này đã tiến hành tập trận bắn súng máy trong vùng EEZ của Nhật Bản gần Okinotori, hòn đảo nằm ở cực nam nước này.

Cánh đồng Yên Giang, phường Trường Vinh (Nghệ An). Ảnh: Lao Động

Nông nghiệp: Tài sản chiến lược trong kỷ nguyên tăng trưởng mới

Những biến động địa chính trị gần đây cho thấy rủi ro bên ngoài sẽ còn là trạng thái bình thường của kinh tế thế giới.

Trong bối cảnh ấy, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô GDP mà còn bằng khả năng chống chịu trước các cú sốc. Nội lực vì thế trở thành yếu tố quyết định, và nông nghiệp là một bộ phận quan trọng của nội lực đó.

Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng trong một tấm ảnh không rõ ngày trước khi bị bắt. Ảnh: FB Dương Kim Khải/ RFA edited

Nhận định của Nhóm Công tác Liên Hiệp Quốc về việc giam giữ Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng

Nhóm Công tác về Giam giữ Tùy tiện LHQ (UNWGAD) phán quyết rằng việc giam cầm Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng là tùy tiện (arbitrary) chiếu theo các Hạng Mục I, II, III và V. Nhóm Công tác kết luận rằng Điều 117 của Bộ luật Hình sự được soạn thảo bằng ngôn từ mơ hồ và quá bao quát, không đáp ứng được nguyên tắc pháp lý hợp chuẩn, và do đó không thể làm nền tảng pháp lý chính đáng cho việc giam giữ.