Hai bản án 17 năm tù vắng mặt: Thông điệp cuối năm của tư pháp chính trị

Tòa án Hà Nội xử khiếm diện 17 năm tù đối với nhà báo Lê Trung Khoa (trái) và LS Nguyễn Văn Đài, cả hai ông này đều đang cư ngụ hợp pháp tại Đức
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ngày 31/12, Tòa án Hà Nội mở liên tiếp hai phiên tòa sơ thẩm xét xử các vụ án chính trị liên quan đến ông Lê Trung Khoa và ông Nguyễn Văn Đài. Cả hai đều bị truy tố theo Khoản 2, Điều 117 Bộ luật Hình sự với cáo buộc “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Điểm đáng chú ý: Cả hai phiên tòa đều xét xử vắng mặt bị cáo chính, và mỗi người đều nhận mức án 17 năm tù giam – mức án thuộc khung cao nhất của điều luật này.

Trong vụ án ông Lê Trung Khoa, tòa còn xét xử các bị cáo Đỗ Văn Ngà, Phạm Quang Đức và Phạm Quang Thiện, những người hiện đang bị tạm giam. Riêng ông Khoa bị xét xử vắng mặt do đang bị truy nã. Hội đồng xét xử cho rằng ông giữ vai trò “chủ mưu, cầm đầu, lôi kéo” và tuyên mức án 17 năm tù.

Với ông Nguyễn Văn Đài, phiên tòa cũng diễn ra trong điều kiện tương tự: Xét xử vắng mặt, không có tranh tụng thực chất, và kết thúc bằng bản án 17 năm tù giam.

Việc xét xử vắng mặt trong các vụ án chính trị nghiêm trọng, với mức án đặc biệt nặng, đặt ra những câu hỏi lớn về quyền bào chữa, tính công khai của tố tụng, và chuẩn mực công bằng tư pháp. Khi bị cáo không có mặt để tự bảo vệ mình trước tòa, bản án không chỉ mang ý nghĩa trừng phạt cá nhân, mà còn phát đi thông điệp răn đe rộng hơn đối với toàn xã hội.

Hai bản án 17 năm tù khép lại năm cũ không đơn thuần là những phán quyết pháp lý. Chúng phản ánh một thực tế: Điều 117 tiếp tục được sử dụng như công cụ chính để xử lý các tiếng nói bất đồng, và tư pháp hình sự ngày càng đóng vai trò củng cố quyền lực chính trị, hơn là bảo vệ quyền con người.

Cuối năm, thay vì những tín hiệu hòa giải hay cải cách, hệ thống tư pháp đã chọn cách khóa chặt không gian tự do bằng những bản án nặng nề, để lại một dấu hỏi lớn cho năm mới về tương lai của quyền tự do ngôn luận và pháp quyền tại Việt Nam.

Facebook Việt Tân

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”