Hệ quả cấm xe máy vào phố Hà Nội

Giao thông Việt Nam. Ảnh: Internet
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Đứng trước tình trạng tắc đường và ô nhiễm nghiêm trọng, mới đây, chính quyền thành phố Hà Nội lại đưa ra đề xuất cấm xe máy tại 2 phố Lê Văn Lương và Nguyễn Trãi, nhằm tiến tới việc cấm xe máy tại các quận vào năm 2030. Mặc dù nói rằng biện pháp trên là “học từ Bắc Kinh”, đề xuất này đang gây nhiều tranh cãi.

Phải thừa nhận, sẽ thật tuyệt vời nếu chúng ta sống trong một thành phố ít phương tiện di chuyển cá nhân, không khí trong lành và không phải đối mặt với vấn nạn tắc đường như tình trạng xe máy hiện nay. Nhưng để giải bài toán trên cần phải tính đến rất nhiều yếu tố, phương án, chứ không phải chỉ là một mệnh lệnh hành chính là xong.

Một biện pháp khó khả thi

Dù sắp tới đây hai đường Lê Văn Lương và Nguyễn Trãi sẽ có cả xe bus nhanh và đường sắt đô thị; nhưng hệ thống giao thông công cộng ở Hà Nội không tạo ra sự liền mạch, tính kết nối để có thể giúp người dân đi từ điểm đầu đến điểm cuối, và như vậy có nghĩa là không thể thay thế hoàn toàn xe máy. Vậy đi hết tuyến xe bus, đường sắt thì sẽ phải đi bộ hay sao?

Trong khi, hai tuyến đường trên đều là tuyến đường xương sống, đây là trục giao thông chính từ Hà Đông vào trung tâm Hà Nội. Hàng ngày có rất nhiều phương tiện xe máy qua lại.

Người dân không chỉ đi đến các địa điểm trên hai đường đó. Việc cấm thì sẽ gây xung đột rất lớn đến việc di chuyển của người dân. Cấm xe máy thì người dân ở Hà Đông và các tỉnh vào Hà Nội sẽ đi bằng gì? Và liệu khi hết giờ xe bus, tàu điện thì dân về bằng gì?

Đẩy ùn tắc từ nơi này sang nơi khác

Nếu muốn cấm xe máy thì Hà Nội cần rất nhiều thời gian để chuẩn bị. Như phương tiện công cộng thay thế, cơ sở hạ tầng bao gồm bãi gửi xe, trạm trung chuyển… Nhưng hiện giờ giao thông công cộng tại Hà Nội quá ít ỏi, chỉ đáp ứng được 8-10% nhu cầu của người dân, còn cơ sở hạ tầng thì đang ở con số không.

Có thể thấy là ở đây đang xuất hiện mâu thuẫn, cấm xe máy trong khi giao thông công cộng chưa đáp ứng nhu cầu. Vì vậy, nếu cấm xe máy ở những đường đó, thì người dân không có cách nào khác là phải luồn lách qua đường khác, chắc chắn sẽ gây ra ách tắc cục bộ.

Đó là chưa kể, khi cấm xe máy, nguy cơ bùng nổ xe ô tô là rất cao. Khi đó Hà Nội có thể rơi vào vòng luẩn quẩn, xe cá nhân ngày càng phát triển, vận tải công cộng càng ít người sử dụng, áp lực lên hạ tầng giao thông còn khủng khiếp hơn. Biết đâu, sau này tắc đường, ô nhiễm nghiêm trọng hơn, người ta lại đổ lỗi là do người dân sở hữu quá nhiều xe ô-tô!

Cấm xe máy có phải là giải pháp?

Quay trở lại với bài học “từ Bắc Kinh” về chuyện cấm xe máy, người ta thấy Bắc Kinh thành công là vì sau khi đã xây dựng hệ thống vận tải công cộng đáp ứng đến 60% nhu cầu đi lại của người dân. Nhưng sau đó, lượng ô-tô gia tăng chóng mặt. Hệ quả là Bắc Kinh vẫn tắc đường, và ô nhiễm đôi khi còn khủng khiếp hơn.

Một trường hợp khác là tại Jakarta, thành phố này vốn kẹt xe nhất châu Á, chính phủ Indonesia từng quy định cấm xe máy ở vài con phố trung tâm. Tuy nhiên, hệ thống hạ tầng giao thông công cộng không đủ đáp ứng được nhu cầu của người dân, khiến quy định này đã phải bãi bỏ.



Jakarta hay Bắc Kinh là những tấm gương cho Hà Nội phải nghiên cứu thật kỹ trước khi đề xuất. Bởi vì để giảm ùn tắc, ô nhiễm hay loại bỏ số lượng phương tiện khổng lồ không đơn thuần chỉ là ra lệnh cấm xe máy. Ai cũng biết xe máy là phương tiện phổ biến tại Việt Nam bởi không chỉ tính linh hoạt, mà giá thành còn phù hợp với thu nhập của người dân. Nếu không tính toán kỹ, việc cấm xe máy không những không có hiệu quả, mà còn tạo ra khó khăn và bất lợi lớn cho người dân, nhất là dân nghèo.

Đâu là giải pháp cho Hà Nội?

Thực tế hiện nay trên thế giới số quốc gia xử dụng xe máy còn rất ít. Có thể kể đến như Đài Loan, Thái Lan… Việt Nam nên học cách giảm phương tiện cá nhân của Đài Loan, mặc dù đây là nơi có mật độ xe máy cao nhất thế giới, nhưng không có kẹt xe, tắc đường. Nguyên nhân chính là nhờ có hệ thống giao thông công cộng và hạ tầng hiện đại.

Để làm được điều này, thay vì đặt nặng việc cấm đoán, Hà Nội nên thực hiện tuần tự các bước: nâng cao chất lượng vận tải công cộng, sau đó nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu giao thông công cộng, cuối cùng mới tính đến việc quản lý phương tiện cá nhân.

Trong đó, để nâng cao năng lực chuyên chở, cần phải tổ chức không gian ưu tiên cho xe bus, và cho người đi bộ tiếp cận xe bus. Và có thể dùng xe bus hai tầng để vận chuyển như ở Singapore, Malaysia, Ấn Độ… Đồng thời phổ biến các loại hình giao thông hiện đại như đường sắt đô thị, tàu điện ngầm…

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đầu tư hạ tầng như mở rộng đường sá, và cần có giải pháp đồng bộ, quy hoạch tổng thể hạ tầng theo xu hướng phát triển hệ thống giao thông công cộng, thay vì quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải, nhằm thu hút người dân sử dụng phương tiện vận tải công cộng và không khuyến khích sử dụng xe cá nhân.

Tóm lại, việc cấm xe máy không phải là một giải pháp hiệu quả cho giao thông Hà Nội. Chính quyền cần phải đưa ra nhiều giải pháp hợp lý để người dân lựa chọn, chứ không thể ép buộc.

Đi lại, và lựa chọn phương tiện là quyền của công dân. Bởi thế, việc chuyển từ phương tiện cá nhân sang công cộng phải là một quá trình tự nhiên, xuất phát từ nhu cầu chứ không phải bằng mệnh lệnh của chính quyền.

Ngô Đồng

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Bản nhạc "Sài Gòn niềm nhớ không tên" sáng tác của nhà văn Nguyễn Đình Toàn (1936-2023), ca khúc - theo GS Nguyễn Văn Tuấn - được xem là hay nhứt ở hải ngoại trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975

Khúc ca cho một thành phố dĩ vãng

Khi nghe câu mở đầu “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên,” tôi bỗng hiểu ra rằng mình đã mất một thứ gì đó mà bấy lâu nay tôi chưa biết gọi tên. Đó cũng là cảm giác chung của hàng triệu người Việt Nam sau biến cố lịch sử.

Và đó cũng là lý do tại sao trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975, “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ được xem là ca khúc hay nhứt ở hải ngoại.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Sau hơn nửa thế kỷ, còn lại bao nhiêu người vui? Bao nhiêu người buồn?

Ngày 30/4 hàng năm không chỉ là một cột mốc thời gian. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nó là vết cắt đi vào lịch sử, để lại những đường sẹo dài trong ký ức dân tộc. Hơn năm mươi năm ấy, mỗi khi tháng Tư trở lại, người ta vẫn thấy lòng mình chùng xuống — không chỉ vì quá khứ, mà còn vì hiện tại.

Một toán người được một tổ chức đưa người vượt biên đưa lên chiếc thuyền hơi nhỏ tại Gravelines, Pháp để vượt biển nhập lậu vào Anh. Ảnh: Gareth Fuller/ PA/ the Guardian

Vì sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi?

Tại sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi? Bất chấp nguy hiểm? Bất chấp nợ nần? Ngay cả khi ai đó nói người Việt vào Anh chỉ để kiếm tiền, chỉ vì lý do kinh tế, chỉ cần nhìn số người Việt đi sang rất nhiều quốc gia khác, như đi lao động xuất khẩu ở những xứ nổi tiếng không tôn trọng nhân quyền như Jordan hay Ả Rập Xê Út, hoặc sang sống lậu ở Thái Lan.

Một người Iran nhìn ra phía eo biển Hormuz. Ảnh minh họa: Asghar Besharati/ Getty Images

Chiến tranh Iran: Ai nháy mắt trước?

Truyền thông cho biết, hôm Chủ Nhật (26/4) Tehran đã đưa ra bản đề nghị mới bằng văn bản, qua trung gian Pakistan, theo đó eo biển Hormuz sẽ được mở lại với điều kiện Hoa Kỳ cũng chấm dứt việc phong tỏa, còn vấn đề chương trình nguyên tử của Iran sẽ tạm gác lại cho các cuộc đàm phán sau này.