Nguyễn Công Bằng
Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản giờ ra sao?
Trung Quốc đang không ngừng rêu rao về việc “chủ nghĩa quân phiệt” Nhật Bản đang trỗi dậy, nhưng hầu như không nước nào ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương bận tâm hoặc tin vào điều đó. Trung Quốc càng lớn tiếng khoa trương và cảnh báo về một Nhật Bản nguy hiểm, họ lại càng trở nên nực cười và vô tình làm cho hình ảnh của Nhật Bản đẹp đẽ hơn khi đặt lên bàn cân so sánh.
Chúng ta cần phải thẳng thắn thừa nhận rằng Nhật Bản đã gây ra rất nhiều đau thương cho khu vực này trong những năm 1930s và 1940s. Thế nhưng, Chiến tranh Thế giới Thứ hai đã kết thúc cách đây 81 năm và Nhật Bản ngày nay – một quốc gia dân chủ, được quản trị theo cơ chế đồng thuận – hoàn toàn đã khác trước.
Đó là một thực tế đã rõ ràng từ rất lâu. Nhật Bản rất được lòng phần lớn các nước châu Á và điều này đã duy trì suốt nhiều thập kỷ qua. Nguồn vốn đầu tư và hỗ trợ kinh tế từ Tokyo luôn được các nước châu Á hoan nghênh, còn vai trò của Nhật Bản đối với an ninh khu vực giờ đây cũng được coi là một điều hiển nhiên.
Tuy nhiên, có quan niệm cho rằng các nước trong khu vực vẫn sợ Nhật Bản vì những ký ức đau thương trong chiến tranh, đặc biệt là trong giới bình luận chính sách đối ngoại phương Tây. Do đó, việc nhìn nhận lại một cách kỹ lưỡng hơn là điều cần thiết.
Đánh giá về Nhật Bản hiện nay
Đối với Ấn Độ, khoảng 1,4 tỷ người dân Ấn Độ luôn dành một tình cảm đặc biệt cho Nhật Bản. Tokyo được nhìn nhận là đã góp phần thúc đẩy nền độc lập của Ấn Độ thông qua việc ủng hộ phong trào dân tộc của Ấn Độ trước và trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai. Mối quan hệ thương mại giữa hai bên vô cùng sâu sắc, trong khi hợp tác quốc phòng song phương cũng ngày càng mở rộng.
Đối với Philippines, Nhật Bản từ lâu đã là nhà đầu tư và nhà cung cấp viện trợ lớn đầy thiện chí. Mối quan hệ quốc phòng thực chất giữa hai nước đã phát triển mạnh mẽ trong thập kỷ qua, minh chứng là việc các lực lượng trên bộ của Nhật Bản đã tham gia huấn luyện chiến đấu trong Cuộc tập trận thường niên Balikatan năm 2026.
Đối với Đài Loan, người dân nơi đây có thiện cảm lớn đối với Nhật Bản. Giai đoạn thuộc địa từ năm 1895-1945 khi Nhật Bản kiểm soát đảo Formosa (Đài Loan) không còn là một vết thương nhức nhối. Chính quyền đắc cử của Đài Loan mong muốn thắt chặt hơn nữa quan hệ với Nhật Bản, bao gồm cả một mối quan hệ hợp tác an ninh.
Đối với Singapore, giai đoạn Nhật Bản chiếm đóng nước này từ năm 1942-1945 vô cùng tàn khốc và chưa bao giờ bị lãng quên, nhưng Singapore và Nhật Bản ngày nay lại có mối quan hệ đặc biệt tốt đẹp. Đáng chú ý, Thủ tướng Singapore Lawrence Wong từng tuyên bố rằng Singapore cùng các quốc gia Đông Nam Á khác ủng hộ Nhật Bản đóng vai trò lớn hơn trong khu vực, kể cả trên mặt trận an ninh.
Đối với Việt Nam, dư luận nước này đã nhiệt tình đón Thủ tướng Sanae Takaichi đến thăm nước này trong tháng 5 năm nay. Việt Nam là điểm đến đầu tiên của Thủ tướng Takaichi trong chuyến công du đến hai nước Việt Nam và Úc. Chuyến đi diễn ra trong “Tuần lễ vàng,” thời điểm diễn ra nhiều kỳ nghỉ lễ của xứ mặt trời mọc.
Tháp tùng Thủ tướng Sanae Takaichi thăm chính thức Việt Nam lần này gồm nhiều quan chức, lãnh đạo Văn phòng Nội các; Bộ Ngoại giao; Bộ Kinh tế Thương mại và Công nghiệp; Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản; Bộ Đất đai, Cơ sở hạ tầng, Giao thông và Du lịch; Bộ Quốc phòng; Bộ Nội vụ và Truyền thông.
“Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Ito Naoki chia sẻ chuyến thăm diễn ra chỉ hơn một tháng sau khi các lãnh đạo mới của Việt Nam được bầu, thể hiện sự coi trọng cao độ của Nhật Bản đối với quan hệ Việt – Nhật, vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.”
Đối với Malaysia, Thủ tướng Anwar Ibrahim gần đây đã có cuộc gặp với Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi, qua đó khẳng định “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” và đặc biệt nhấn mạnh đến việc mở rộng hợp tác quốc phòng. Nhật Bản và Malaysia hiện đang thảo luận về việc chuyển giao các tàu đã loại biên của Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản (MSDF) cho phía Malaysia.
Đối với Indonesia, ngoài việc là nhà đầu tư lớn, Nhật Bản còn được xem là đã góp phần giúp Indonesia thoát khỏi ách đô hộ của Hà Lan. Hai quốc gia đang hợp tác chặt chẽ về quốc phòng và thảo luận về việc chuyển giao các tàu khu trục lớp Asagiri đã loại biên của Nhật Bản cho Hải quân Indonesia.
Đối với Thái Lan, nước này là trung tâm hoạt động thương mại của Nhật Bản trong khu vực suốt nhiều thập kỷ qua. Mối quan hệ giữa hai bên rất bền chặt, bao gồm cả mối quan hệ giữa hai hoàng gia. Nhật Bản cũng đã âm thầm xây dựng một mối quan hệ quốc phòng đáng chú ý với Thái Lan.
Đối với Australia, ngoài quan hệ kinh tế và chính trị lâu đời, Canberra gần đây đã ký thỏa thuận mua các tàu khu trục lớp Mogami của Nhật Bản. Quan hệ quốc phòng hai chiều cũng đã được thắt chặt hơn trong 15 năm qua. Australia có nhiều lý do để oán hận hành vi tàn bạo của Nhật Bản đối với tù binh nước họ trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai, nhưng họ đã không chọn cách đó.
Đối với các quốc đảo Thái Bình Dương – từ Quần đảo Solomon, Micronesia cho đến các vùng lãnh thổ của Mỹ như Khối Thịnh vượng chung Bắc Mariana và Guam – Nhật Bản đều được yêu mến và được đánh giá cao nhờ sự hỗ trợ phát triển cùng sự hiện diện thương mại. Các chuyến thăm và hoạt động huấn luyện định kỳ của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) tại khu vực luôn diễn ra một cách lặng lẽ và không hề gặp phải bất kỳ sự phản đối nào từ các quốc gia biển đảo này.
Đòn thù cố hữu
Tuy nhiên, bất chấp sự tôn trọng và thiện cảm của nhiều quốc gia, vẫn tồn tại một số quan điểm không mấy tích cực đối với Nhật Bản. Sự thù hận sâu sắc – dù có giới hạn – của Hàn Quốc đối với Nhật Bản vẫn tồn tại do quá khứ chiếm đóng thuộc địa của Nhật. Điều này cũng bị các chính trị gia cánh tả Hàn Quốc lợi dụng vì mục đích chính trị. Trớ trêu thay, rất nhiều người Hàn Quốc lại thích du lịch Nhật Bản. Hai quốc gia từng có mối quan hệ quốc phòng tương đối ổn định trong quá khứ và dưới chính quyền cánh tả của Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung, Hải quân Nhật Bản cùng Hải quân Hàn Quốc gần đây đã tiến hành các cuộc tập trận tìm kiếm cứu nạn chung.
Còn đối với Trung Quốc, lực lượng Nhật Bản tại nước này từ những năm 1930 trở đi thường có những hành vi vô cùng tàn bạo. Thế nhưng, chính đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) lại sẵn sàng đón nhận viện trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản, đồng thời hoan nghênh dòng vốn đầu tư cũng như công nghệ đi kèm từ quốc gia này. Dù sự thù hận sâu sắc đối với Nhật Bản đã tồn tại từ lâu, nhưng cũng chỉ khoảng 20 năm trở lại đây, ĐCSTQ mới tích cực khơi dậy những hận thù lịch sử đó để phục vụ lợi ích chính trị.
Điều này vừa nhằm mục đích đối nội, vừa nhằm gây sức ép buộc Nhật Bản rơi vào thế bị động khi nước này đang muộn màng tìm cách nâng cao năng lực quốc phòng trước một Trung Quốc ngày càng hung hăng. Mặc dù vậy, hàng triệu người Trung Quốc vẫn sang Nhật Bản du lịch và ước tính hiện có khoảng 1 triệu người Trung Quốc đang sinh sống tại xứ sở mặt trời mọc.
Định kiến cho rằng “châu Á sợ Nhật Bản vì Chiến tranh Thế giới thứ Hai” không thể đứng vững trước các phân tích thực tế. Ngay cả khi Nhật Bản thực hiện các kế hoạch củng cố quốc phòng, nước này vẫn không có đủ khả năng phô diễn sức mạnh để đe dọa các nước láng giềng.
Thật trớ trêu, trong khi Bắc Kinh liên tục cảnh báo về chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản, thì chính Trung Quốc mới là bên đã xây dựng một lực lượng quân sự hùng mạnh với những tham vọng thống trị khu vực và toàn cầu, dù họ chẳng phải đối mặt với bất kỳ kẻ thù nào.
Trên thực tế, Trung Quốc dường như đang đặt mục tiêu tạo ra một phiên bản riêng dựa trên mô hình “Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á” mà Nhật Bản từng dựng lên – thứ từng dẫn đến chiến tranh và đau thương trong những năm 1930 và 1940. Có vẻ như sau tất cả, Bắc Kinh mới là bên đã rút ra được bài học sâu sắc từ lịch sử của Nhật Bản.



