Những cái vòi hút ngân sách

Bộ Trưởng Bộ Lao Động-Thương Binh và Xã Hội Đào Ngọc Dung trong một buổi thảo luận tại quốc hội 18/11/2019, đã tiết lộ: “Hầu hết các bộ, ngay ở bộ tôi, có đến 90% thứ trưởng trước khi về hưu đều đề nghị cho thành lập hội và đều xung phong nhận nhiệm vụ làm chủ tịch một hội.” Ảnh: Vĩnh Long Online
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ngày 18 tháng Mười Một, Bộ Trưởng Bộ Lao Động-Thương Binh và Xã Hội Đào Ngọc Dung trong một buổi thảo luận tại quốc hội, đã tiết lộ một chuyện khá thú vị.

“Hầu hết các bộ, ngay ở bộ tôi, có đến 90% thứ trưởng trước khi về hưu đều đề nghị cho thành lập hội và đều xung phong nhận nhiệm vụ làm chủ tịch một hội”. Ông Dung đã nói.

Nói thú vị nhưng thật sự người dân cảm thấy rất chua chát và phải đặt câu hỏi rằng đàng sau hành động này là gì. Bởi vì số thứ trưởng các bộ trong chính phủ Việt Nam thường là con số kỷ lục hiếm có, có bộ hiện diện tới 9 thứ trưởng như Bộ Tài Chính hay 7 vị của Bộ Xây Dựng theo số liệu năm 2013. Nay cái số đông trong họ sau thời gian làm đày tớ dân, bây giờ còn muốn tiếp tục phục vụ trong một môi trường khác, thật là một điều đáng quý của các công bộc. Nhưng có thật vậy không?

Trước hết, thông thường cứ mỗi hội do các thứ trưởng về hưu lập ra tuy chưa biết tên là hội gì, nhưng các ông ấy buộc phải có tiền để chi tiêu lúc ban đầu, trong lúc tiến hành việc thành lập. Tiền này dĩ nhiên các chủ tịch hội tương lai không phải bỏ ra, chắc chắn họ sẽ xin ngân sách quốc gia hỗ trợ và biết trước nhà nước không bao giờ từ chối.

Kế đến mặc dù nhà nước không có luật về hội, nhưng hội hè của các thứ trưởng nhân danh công ích sẽ chiếm dụng một số đất đai để xây trụ sở, trước khi đi vào hoạt động. Chẳng những vậy những phần “đất chùa” được nhà nước cấp, sau này còn có thể làm trò mánh mung sang nhượng, buôn bán thủ lợi riêng. Nhưng lý do vì sao các thứ trưởng về hưu lại đua nhau xin lập hội, thì Bộ Trưởng Đào Ngọc Dung không giải thích.

Nhưng ông bộ trưởng đã ta thán như sau “Khi xin họ đều nói tự nguyện, tự quản, tự cung tự cấp… nhưng không có hội nào tự chủ, tự quản hết. Hội nào cũng bám vào trụ sở, có trụ sở chính, có trụ sở phụ…” Thực trạng này nếu không do người trong cuộc nói ra thì cũng không ai tin. Nó cho thấy sự lạm dụng trơ trẽn của cả một hệ thống chính quyền bất lực nhưng sẵn sàng làm mọi thứ để phá hại đất nước.

Thêm nữa, các hội thì mọc ra như nấm mùa mưa, tiêu rất nhiều tiền công quỹ nhưng hoạt động ra sao thì không ai biết. Chẳng hạn, Bộ Lao Động-TB và XH có tới 38 thứ hội, đã hút biết bao thứ quỹ của nhà nước nói là giúp cho xã hội, cho người nghèo. Nhưng thực ra họ hoạt động ra sao và có mang lại hiệu quả thiết thực nào đối với người dân hay không thì không ai biết.

Sự kiện này cho người ta thấy:

Trước hết, đảng CSVN rất sợ dân chúng lập hội nên lâu nay tìm đủ mọi cách, mọi lý do để ngăn chặn không cho luật về hội ra đời. Cho tới bây giờ chính quyền cộng sản vẫn chưa thấy quyền lập hội của người dân mang lại lợi ích to lớn thế nào đối với chính quyền. Nó chính là chiếc cầu nối đem nhân dân gần lại chính quyền và ngược lại, giúp chính quyền thấu triệt nguyện vọng nhân dân để hành động xứng đáng với trách vụ của nhà cai trị. Mà khi không có chiếc cầu nối ấy thì giữa nhân dân và chính quyền chẳng bao giờ có sự đồng thuận như mong muốn, đôi khi còn trở nên thù địch trong các chế độ độc tài.

Ở Việt Nam tổ chức xã hội dân sự bị đảng loại trừ, vì lo sợ rằng những tổ chức này có thể làm suy yếu chế độ, ngoại trừ những tổ chức do chính quyền đứng sau lập ra và chỉ đạo hành động. Nhưng do sự đòi hỏi ngày càng mạnh mẽ của người dân, luật lập hội cũng được nói là đã được “dự thảo”, nhưng đang giao cho Bộ Công An có ý kiến phù hợp với tình hình an ninh chính trị đang bất lợi cho chế độ.

Vì thế mặc dù tự rêu rao là một “nhà nước pháp quyền”, nhưng luật lập hội trong suốt nhiều năm nay vẫn chỉ lấp ló trên bàn viết Bộ Công An. Nhưng sự ngăn chặn này chỉ đúng với người dân là trói tay họ, bởi lý do đảng không muốn ai xuống đường bày tỏ ý kiến về bất cứ vấn đề gì. Còn đối với cán bộ, khi có luật lập hội đàng hoàng, minh bạch thì những ông thứ trưởng sắp về quê “làm người tử tế” khó mà lập hội này hội nọ một cách tuỳ tiện để tạo thành một cái vòi hút ngân sách cũng tuỳ tiện luôn.

Kế đến, sự tuỳ tiện lập hội của các ông thứ trưởng cũng chính là chủ trương của đảng muốn ban phát quyền lợi cho cán bộ. Điều đó có nghĩa tiếp tục buộc chặt cuộc đời họ, dù có về hưu vẫn phải sống bám vào đảng để không chống lại đảng. Nói cách khác, cho lập hội tuỳ tiện, tràn lan đối với thành phần viên chức chính phủ là để tiếp tục nuôi một bọn phá hoại đất nước nhưng không chống đảng.

Nhưng điều quan trọng hơn hết là qua những hội vô tích sự này, chế độ độc tài chuẩn bị đối phó với các đoàn thể quần chúng trong tương lai. Một khi chế độ bị ép buộc phải chấp nhận quyền lập hội của người dân, sự tập họp của quần chúng trong các đoàn thể có tổ chức đặt dưới sự chỉ đạo các thành phần yêu nước ngoài đảng là một thách thức lớn cho chế độ độc tài. Lúc đó để đối phó với tình hình, không có gì tốt hơn để chính quyền sử dụng những “hội nhà” được nuôi dưỡng lâu nay biến chúng thành những mũi nhọn công phá các hội đoàn quần chúng.

Sau cùng, những phân tích nói trên cho thấy một cách rõ ràng là đảng CSVN thực sự không quan tâm gì đến quyền lợi chính trị và nhu cầu kết đoàn để xây dựng đất nước của người dân. Mà đảng chỉ cố tình duy trì cho một số cán bộ lúc về hưu có thể bám lấy hình thức đoàn thể do nhà nước quản lý để bòn rút tiền của, đất đai cho lợi ích riêng, đồng thời để phục vụ cho sự tồn tại của chế độ.

Phạm Nhật Bình

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”