Những nhận xét về sinh viên và nền giáo dục miền Nam trước 1975

Ảnh chụp bài báo trên Vietnamnet với 'highlight' nhận xét của cựu Hiệu trưởng Nguyễn Kim Hồng, người được cử vào tiếp quản Đại học Sư Phạm Sài Gòn sau 30/4/1975. Ảnh: FB Nguyễn Tuấn
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Trong một bài báo lâu rồi (7 năm), thầy Nguyễn Kim Hồng (người được cử vào tiếp quản ĐH Sư Phạm Sài Gòn) kể lại là bị sốc vì phẩm hạnh của sinh viên miền Nam và cơ sở vật chất giáo dục trong Nam [1].

Sau ngày 30/4/1975 có nhiều người từ miền Bắc được cử vào ‘tiếp quản’ các thiết chế giáo dục và hành chánh ở miền Nam. Nhiều người trong số đó tỏ ra ngạo mạn và khinh thị. Học giả Nguyễn Hiến Lê, trong cuốn hồi ký (bị kiểm duyệt) viết: “Người Bắc coi người Nam là ngụy, đối xử với người Nam như thực dân da trắng đối với dân ‘bản xứ,’ tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mỹ thì cái gì cũng làm được. Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: ‘Tôi là kháng chiến, anh là ngụy thì tôi mới có lý, anh đừng nói nữa’.”

Nhưng không phải ai cũng như vậy, mà cũng có người đàng hoàng và tử tế. Thầy Nguyễn Kim Hồng được giới có học trong Nam coi là người tử tế và đàng hoàng. Trong một bài phỏng vấn trên Vietnamnet ngày 30/4/2018, thầy Hồng nói nhiều ý đáng ghi nhận. Tôi tóm tắt như sau:

Vào Sài Gòn, thầy cảm thấy sốc vì không ngờ Sài Gòn lớn. Ông nói:

“Cảm giác đầu tiên là rất lạ, mà nói thật là cú sốc. Tôi không nghĩ là Sài Gòn lại lớn và đẹp đến như vậy.”

Ông cảm thấy ngạc nhiên khi sinh viên mặc áo dài đi học và họ tỏ ra lễ phép. Thầy Hồng nói:

“Hình ảnh ấn tượng đầu tiên là sinh viên nữ mặc áo dài đi học, điều chỉ được thấy ở các hội diễn văn nghệ của sinh viên miền Bắc. Sinh viên Sài Gòn rất lễ phép. Đa phần sinh viên Sài Gòn thời điểm đó đều xưng con với tôi, mặc dù tôi chỉ hơn họ 3-4 tuổi thôi. Việc khoanh tay để chào khách, chào thầy, cô ở miền Bắc được coi là hiếm nhưng ở Sài Gòn lại như một điều tất nhiên. Tôi cảm giác nhà trường và các gia đình Nam Bộ chú ý nhiều hơn đến việc dạy lễ cho con em mình.”

Nhận xét về giới trí thức Sài Gòn, thầy Hồng không như cụ Đào Duy Anh (người từng lớn tiếng phê bình giới có học miền Nam như một bọn truỵ lạc, hư hỏng, điếm đàng, v.v.), mà có sự công tâm. Thầy nói:

“Phần lớn trí thức ở Sài Gòn trước năm 1975 mà ông gặp đều được đào tạo hoặc tu nghiệp ở Anh, Mỹ, Pháp… nói chung là ở các nước phát triển. Trong lĩnh vực khoa học xã hội, theo tôi những giảng viên trước 1975 ở miền Nam được đào tạo tốt hơn,” và “… Có tình trạng thâm hụt khá lớn trong giới trí trức khoa học xã hội có trình độ cao ở miền Nam lúc đó khi nhiều người đã rời bỏ đất nước.”

Nói về cơ sở vật chất, thầy Hồng nhận xét: “Khi vào làm việc, sự khác biệt đầu tiên mà tôi thấy là cơ sở vật chất. Ở Hà Nội, nơi tôi học, phòng thực hành địa chất nhỏ và ít mẫu vật hơn nhiều so với tại ĐH Sư phạm TP.HCM. Giảng đường với các camera truyền hình ảnh trực tiếp với tôi cũng là điều chưa có ở miền Bắc thời điểm đó.”

Về cuộc sống hàng ngày, thầy Hồng kể, điều ông thích nhất là con người Nam Bộ không can thiệp vào chuyện cá nhân. Họ không đưa chuyện cá nhân, cuộc sống mưu sinh vào công việc, chính trị… đó là điểm rất khác đối với người miền Bắc.

Những nhận xét trên của thầy Nguyễn Kim Hồng rất khác với các vị tuyên giáo. Trong cuốn “Nọc độc văn hóa nô dịch” (NXB TP.HCM), tác giả Chính Nghĩa cho rằng hệ thống giáo dục ở miền Nam là nhằm mục tiêu ngu dân. Tác giả Chính Nghĩa viết:

“Mỹ ngụy đề ra ba phương châm giáo dục là ‘Nhân bản, dân tộc, khai phóng!’. Sau này, chúng đề thêm hai phương châm nữa là ‘đại chúng’ và ‘thực dụng’.”

Hơn thế nữa, Chính Nghĩa cho rằng học ngoại ngữ là ngu dân: “Thực hiện giáo dục ngu dân bằng cách ép học ngoại ngữ.”

Còn các giáo sư? Chính Nghĩa viết: “Các giáo sư làm cao thủ, giáo sư dồn mọi sức lực, tài năng để cạnh tranh nhau và để chính phục học trò. Giáo sư dần dần trở thành kịch sĩ, ca sĩ trước đám học trò lúc đó đã trở thành khán giả.”

Chuyện đã nhuốm màu thời gian, nhắc lại để biết chúng ta đã đi một quãng đường dài, và giác ngộ nhiều rồi.

Nhạc sĩ Vũ Thành An đã đúng khi viết: “lời anh nói sẽ còn mãi đấy.” Những từ ngữ công tâm như của thầy Nguyễn Kim Hồng sẽ có sức lan toả lớn và tích cực. Người sống hạnh phúc không dành thời gian để hậm hực; họ hiểu rõ sức mạnh và giá trị của từng con chữ.

GS Nguyễn Văn Tuấn

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn


[1] https://vietnamnet.vn/cu-soc-cua-cuu-hieu-truong-dai-hoc-ngay-dau-vao-sai-gon-446151.html

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”