Nợ xấu bất động sản ở Việt Nam là “sự mục nát kéo dài” như ở Trung Quốc?

Ảnh minh họa: Dự án Khu dân cư Tân Thịnh, Trảng Bom (Đồng Nai)
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Đông Nghi

Việt Nam đang ở trong một giai đoạn “trì hoãn nợ” tương tự như Trung Quốc

Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một thử thách lớn về nợ xấu, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản (BĐS), với những điểm tương đồng “Sự mục nát kéo dài” (Prolonged Decay) ở Trung Quốc.

Tuy khác nhau về quy mô và cách thức xử lý, nhưng nếu không có các biện pháp quyết liệt và thực chất, Việt Nam có nguy cơ đối mặt với một giai đoạn tăng trưởng chậm và năng suất thấp do dòng vốn không được lưu thông hiệu quả.

I. Trì hoãn nợ

Việt Nam đang ở trong một giai đoạn “trì hoãn nợ” tương tự như Trung Quốc.

Giống như Bắc Kinh sử dụng các chính sách khoan dung để ổn định hệ thống tài chính, Việt Nam cũng áp dụng Thông tư 02/2023/TT-NHNN (và các bản gia hạn). Chính sách này cho phép các ngân hàng cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho các doanh nghiệp gặp khó khăn mà vẫn giữ nguyên nhóm nợ.

Hệ quả là, nợ xấu trên sổ sách có vẻ ổn định, nhưng rủi ro vẫn còn đó. Tỷ lệ nợ xấu thực tế, nếu cộng cả nợ được cơ cấu và nợ tiềm ẩn từ các trái phiếu doanh nghiệp, cao hơn nhiều so với con số báo cáo.

Cả hai nước đều đối mặt với việc vốn tín dụng bị kẹt cứng trong các dự án BĐS dở dang. Tại Trung Quốc, đó là hàng loạt thành phố ma và khủng hoảng của Evergrande và Country Garden.

Tại Việt Nam, nhiều tập đoàn lớn cũng rơi vào khủng hoảng thanh khoản. Khi dòng tiền từ BĐS không về, ngân hàng không thu hồi được nợ, tạo ra hiện tượng “nghẽn” tín dụng. Ngân hàng buộc phải gồng mình hỗ trợ để tránh sự sụp đổ dây chuyền, khiến một lượng lớn vốn bị giam và không thể chảy vào các lĩnh vực khả năng tạo tăng trưởng và việc làm bền vững.

Hiện nhiều doanh nghiệp đang sống bằng tín dụng, khi  phải đi vay mới để đảo nợ hay trả lãi cho các khoản vay cũ, hoặc được ngân hàng gia hạn nợ. Nhiều chủ đầu tư hiện nay không có doanh thu thực tế nhưng vẫn không tuyên bố phá sản nhờ các biện pháp cơ cấu nợ, chỉ cố gắng duy trì bộ máy tối thiểu và chờ đợi chính sách hoặc thị trường phục hồi.

II. Cục máu đông gây ra “sự mục nát kéo dài”

Trong nửa đầu năm 2026, tổng giá trị gốc và lãi trái phiếu doanh nghiệp phải trả là khoảng 123.000 tỷ đồng, trong đó ngành BĐS chiếm gần 55% tổng nghĩa vụ trả lãi của khối phi ngân hàng. Trên cả nước hiện vẫn còn hơn 2.900 dự án BĐS bị đình trệ.

Thay vì “thành phố ma” khổng lồ, Việt Nam có hàng nghìn dự án đắp chiếu hoặc xây dựng dở dang do thiếu vốn hoặc vướng mắc pháp lý và bị chôn vốn.

Các dự án hàng nghìn hecta ở Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu hay Phú Quốc, hiện chỉ là những dãy shophouse xây thô, không người ở, không tiện ích. Từng được quảng cáo là các đại đô thị hay khu vực nghỉ dưỡng đẳng cấp ven biển, giờ đây lại bị bỏ không.

Bên cạnh đó là hàng trăm dự án phải dừng lại do thanh tra hoặc sai phạm quy hoạch. Riêng TP.HCM có khoảng 504 dự án vướng pháp lý, tương đương với giá trị nguồn vốn bị chôn lên tới hàng triệu tỷ đồng. Trong đó có nhiều dự án tại khu đất vàng vẫn đang bị phong tỏa hoặc chờ đấu giá thi hành án do có liên quan đến Vạn Thịnh Phát.

Ngoài ra có không ít các tập đoàn lớn đang ra sức cơ cấu nợ và xin gia hạn trái phiếu liên tục. Công ty CP Đầu tư LDG có món nợ quá hạn chưa thanh toán lên đến hơn 734 tỷ đồng, với dự án đình trệ Khu dân cư Tân Thịnh (Đồng Nai) với 500 biệt thự xây dựng trái phép trên thửa đất 18 ha.

Tập đoàn Novaland đang tăng tốc tái cấu trúc, nhưng chỉ có thể đủ nguồn tiền trả các khoản nợ vay và trái phiếu vào cuối năm 2026 – 2027. Các dự án trọng điểm như Aqua City (Đồng Nai) và NovaWorld Phan Thiet (Bình Thuận) đang được ngân hàng hỗ trợ giải ngân theo từng phân khu.

Hưng Thịnh Land (thành viên Tập đoàn Hưng Thịnh) đang nỗ lực tái cấu trúc nợ, tiếp tục đàm phán gia hạn nhiều lô trái phiếu sang năm 2026-2027 để giảm áp lực tài chính ngắn hạn.

III. Hệ luỵ kéo dài cho nền kinh tế và người dân

Sự “mục nát kéo dài” này khiến nền kinh tế Việt Nam giống như một người khỏe mạnh nhưng có khối u âm ỉ: Không chết ngay, nhưng luôn cảm thấy mệt mỏi và dễ đổ bệnh khi trái gió trở trời.

Về vĩ mô, nếu nợ xấu không được xử lý dứt điểm, sẽ khiến cho chi phí vốn tăng cao. Các doanh nghiệp đang hoạt động tốt phải chịu lãi suất vay cao để ngân hàng có chi phí bù đắp rủi ro từ các khoản nợ xấu bị che giấu.

Các ngân hàng phụ thuộc vào tiền gửi ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay bất động sản dài hạn cũng đối mặt với rủi ro lệch kỳ hạn. Những biến động trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp giai đoạn 2022-2023 khiến doanh nghiệp BĐS không thể phát hành trái phiếu mới để đảo nợ cho các lô trái phiếu cũ đến hạn. Thêm vào đó vốn bị chôn trong các dự án BĐS “đắp chiếu” làm giảm sức lan tỏa của dòng tiền vào nền kinh tế.

Với người dân, họ đang phải  trả lãi cao hơn để gánh rủi ro cho các khoản nợ của các doanh nghiệp BĐS xác sống. Người dân nếu lỡ mua một căn hộ hoặc mảnh đất tại một dự án bị vướng pháp lý hoặc của chủ đầu tư đang khó khăn sẽ khó bán tài sản và không thể vay vốn thế chấp.

Đáng lo hơn với những người dân mua trái phiếu BĐS. Họ đang bị ép hoặc mời chào chuyển đổi trái phiếu sắp đáo hạn sang thành BĐS dở dang, chuyển một khoản nợ sang một tài sản khó thanh khoản, làm rủi ro tăng gấp đôi.

Khi năng suất kinh tế giảm do vốn bị kẹt, Nhà nước có thể phải bơm thêm tiền vào hệ thống để cứu vãn tăng trưởng. Hệ quả là lạm phát tăng cao, làm giảm sức mua thực tế của đồng tiền trong túi người dân.

Việt Nam đang sử dụng các thông tư giãn nợ để tránh cú sốc tức thì. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tạm thời. Nếu niềm tin cho thị trường bất động sản không sớm cải thiện, núi nợ xấu từ BĐS sẽ là cái bóng lớn kìm hãm đà tăng trưởng của Việt Nam trong nhiều năm tới.

Đối với cá nhân và nhà đầu tư, chiến lược an toàn nhất trong giai đoạn này là ưu tiên tiền mặt và cực kỳ cẩn trọng với các tài sản có tính pháp lý chưa rõ ràng.

Nguồn: Việt Nam Thời Báo

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”

Ảnh minh họa

Tầng lớp trung lưu mới và bẫy thu nhập trung bình cao

Khảo sát bỏ túi gần đây của báo Thanh Niên về câu chuyện của anh Hoàng Việt – một nhân viên IT 40 tuổi tại TP.HCM – là một lát cắt vô cùng sống động phản ánh hành trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam suốt nhiều thập niên qua. Từ mức kỳ vọng ban đầu chỉ là một công việc ổn định với mức lương 15 – 20 triệu đồng/tháng, sau 13 năm, anh Việt đã có thể kiếm được gần 100 triệu đồng mỗi tháng nhờ sự năng động, làm thêm nghề tay trái và đầu tư vào đất đai, chứng khoán.

Hành hung người dẫn đến tử vong sau vụ va chạm xe ở Tây Ninh, tháng 1/2026. Ảnh: Báo Dân Việt

Sức mạnh của một dân tộc bắt đầu từ cách con người đối xử với nhau

Một xã hội chỉ thực sự văn minh khi con người biết giải quyết bất đồng bằng lý trí và pháp luật. Nếu phản ứng đầu tiên trước mâu thuẫn luôn là sự giận dữ, lời lẽ xúc phạm hay bạo lực, thì sự phát triển về kinh tế cũng khó có thể bù đắp cho những tổn thương trong đời sống xã hội.