Phạm Minh Hoàng
Trong nhiều tuần lễ vừa qua, một trong những vấn đề thời sự liên quan đến đời sống người dân Việt Nam là giá xăng. Nhiều cây xăng tại Hà Nội, TP.HCM ghi nhận cảnh nửa đêm người dân xếp hàng dài, thời gian chờ 30–45 phút. Đến ngày 22/3, giá xăng RON-95 đã lên mức 30.000 đồng/lít. Nếu so với mức sinh hoạt của người dân thì đây là một gánh nặng khủng khiếp. Và một khi giá xăng tăng thì mọi thứ giá sinh hoạt cũng sẽ tăng theo.
Trước khi đi vào những vấn đề liên quan đến đời sống người dân, thiết nghĩ chúng ta cũng cần nên biết tại sao Việt Nam là nước có tài nguyên dầu mà lại vừa phải nhập dầu và vừa phải lo âu về biến động giá cả trên thế giới.
Trước tiên, phải thừa nhận rằng dầu thô của Việt Nam là loại dầu “chất lượng thấp” vì nó có hàm lượng parafine cao (xấp xỉ 30%). Hệ quả trực tiếp là giá vận chuyển đến nhà máy lọc dầu Dung Quất tốn phí và việc chế biến thành phẩm (xăng, dầu hôi, diesel, nhựa đường) cũng đắt hơn. Chính vì lý do này các nhà quản trị phải cân nhắc trong việc điều hành nhà máy lọc dầu. Nếu chạy hết công suất thiết kế thì giá thành cao mà chạy dưới công suất thì không đáp ứng thị trường. Thế nên mới có chuyện oái oăm là Việt Nam phải nhập cảng dầu thô “chất lượng cao” để vận hành và vì thế giá xăng thành phẩm phụ thuộc vào giá dầu thô thế giới.
Đến đây chắc sẽ có người hỏi vào thời điểm xây dựng nhà máy Dung Quất (1986) các kỹ sư Việt Nam và Liên Xô không lẽ không biết gì về vấn đề này? Thực ra là có, nhưng mãi về sau các nhà phân tích mới “dám” thừa nhận rằng kế hoạch này chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các “mục tiêu chính trị.”
Bây giờ chúng ta bước vào câu chuyện thời sự.
1. Vấn đề thuế
Hầu như tất cả các nước đều đánh thuế trên dầu nhập, cho dù là dầu thô hay thành phẩm. Nhưng tại Việt Nam, dầu được đánh thuế theo 4 mức: Thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế môi trường và thuế VAT (trị giá gia tăng) trong khi Pháp họ chỉ đánh một lần (nhưng rất nặng).
Hệ quả là cách đánh thuế “kiểu Việt Nam” cho phép nhà nước có nhiều cách điều chỉnh trên 4 loại thuế nhưng ngược lại họ có ảnh hưởng về mặt tuyên truyền. Chẳng hạn vừa qua báo chí rộ lên việc nhà nước giảm thuế VAT khiến giá xăng giảm. Tuy nhiên, song song đó họ có thể điều chỉnh 3 loại thuế còn lại nên việc này tạo ra hệ quả là khó minh bạch với dân. Người dân thấy giá xăng giảm thì mừng, nhưng thực ra họ bị “móc túi” chỗ khác mà không hay.
2. Quỹ bình ổn giá xăng dầu
Tại Việt Nam, Quỹ bình ổn giá xăng dầu là quỹ tài chính ngoài ngân sách, hình thành từ khoản trích lập trên mỗi lít xăng dầu bán lẻ (vài trăm đồng/lít), do doanh nghiệp đầu mối giữ trong tài khoản riêng và sử dụng theo lệnh điều hành giá. Khi giá thế giới tăng mạnh, doanh nghiệp được phép “xả quỹ” để giá bán lẻ tăng ít hơn; khi giá thế giới giảm hoặc ổn định, Nhà nước yêu cầu “trích lập lại quỹ,” tức là người tiêu dùng lại đóng góp trở lại.
Nghe qua thì hợp lý nhưng thực chất tiền quỹ chủ yếu là tiền người dân đã trả trước; “bình ổn” chỉ là tạm thời, sau đó lại phải trích lập bù, nên về dài hạn người tiêu dùng vẫn gánh đủ.
Mặt khác trong một chế độ mà nhà nước kiểm soát tất cả thì nguy cơ thiếu minh bạch rất lớn. Ai thực sự là người cầm nắm quỹ? Họ quản lý thế nào? Rồi khi giá tăng sốc kéo dài, quỹ cạn rất nhanh, Nhà nước lại phải tính chuyện dùng ngân sách (tức tiền thuế chung) để bù – nghĩa là người dân sẽ trả hai lần: Một qua giá xăng, hai qua ngân sách.
3. Một trong những thắc mắc thường được đưa ra là khi giá dầu thế giới tăng, giá Việt Nam tăng theo; nhưng khi giá giảm, phía Việt Nam lại không giảm theo. Đây là lý do: Khi giá tăng mạnh, Nhà nước có thể xả quỹ bình ổn để giá trong nước tăng ít hơn mức thế giới; về mặt số học, lúc đó “đáng lẽ phải tăng X nhưng chỉ tăng X – Y” vì có quỹ bình ổn bù.
Đến khi giá thế giới giảm, chính phủ thường dừng hoặc giảm chi quỹ, thậm chí bắt đầu thu quỹ trở lại, nên phần “giảm được” do giá thế giới hạ bị bù trừ bởi phần “phải góp lại quỹ,” kết quả là giá bán lẻ giảm ít hoặc gần như đứng yên. Nói một cách khác, giảm chậm không chỉ vì tồn kho, mà còn vì quyết định ưu tiên bù đắp quỹ và ngân sách hơn là trả lại toàn bộ mức giảm cho người tiêu dùng ngay lập tức.
Đây là cách tính “bất đối xứng” bình thường trong giao dịch thương mại quốc tế, nhưng trong hoàn cảnh thiếu minh bạch và thiếu cơ chế giám sát như ở Việt Nam, thì “bất đối xứng” thường đem lại lợi nhuận cho những người nắm giữ chính sách.
Theo Global Petrol Prices, chiến sự Iran làm giá dầu thế giới của Việt Nam tăng cao nhất thế giới (tăng khoảng 50%, chỉ sau Campuchia). Theo cơ quan này thì vụ đóng cửa eo biển Hormuz ảnh hưởng trầm trọng đến các nước Á châu. Tuy nhiên, việc Việt Nam còn đứng trên cả các nước phụ thuộc nhiều vào dầu nhập như Nhật (90% nhu cầu), Hàn Quốc (70%) cũng như nhiều nước khác phải khiến nhà nước Việt Nam phải xem lại cách quản lý và vận hành món hàng chiến lược như dầu hỏa nói riêng và toàn xã hội nói chung.



