Rừng và Việt Nam

Nguồn: FB Thái Hạo
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Rừng nguyên sinh ở Việt Nam hiện chỉ còn 0,25%, nói cách khác là đã bị xóa sổ. Điều đáng kinh ngạc là trước 1945 con số này là khoảng 45%. Trong 30 năm tiếp theo (1945-1975) giảm xuống còn khoảng 20%. Đến năm 1990 rừng nguyên sinh gần như biến mất, chỉ còn từ 1-2%.

Báo cáo chính thức cho hay, hiện nay diện tích che phủ rừng của Việt Nam là 42%. Nhưng đây là “con số giả tạo” được làm ra do thay đổi “định nghĩa rừng” nhằm phục vụ cho mục tiêu hành chính và thành tích. Những ai đã đi từ Nam chí Bắc sẽ thấy “keo keo toàn keo.” Những vườn cây này không phải là rừng thật, chúng chỉ là các nông trường cây độc canh, tạo “cảm giác rừng.” Bên cạnh đó là rừng nghèo, rừng đã mất giá trị sinh thái và khí hậu.

Từ một “quốc gia rừng,” chỉ trong vài thập kỷ chúng ta đã mất tất cả. Và đây là một vấn đề nghiêm trọng bậc nhất, đe dọa sự ổn định, phát triển và an toàn của đất nước.

2. Vai trò của rừng

Có lẽ bất kỳ ai từng qua phổ thông cũng được dạy và học rằng rừng rất quan trọng. Nhưng tôi tin rằng không có nhiều người hiểu sâu sắc và thật sự cảm nhận được kiến thức đã học trong sự gắn bó thiết thân với những gì đã và đang xảy ra trong thời tiết của lãnh thổ.

Rừng giữ nước – giữ đất – khí hậu; mất rừng dẫn đến mất khả năng tự điều hòa, thiên nhiên phản ứng cực đoan. Nếu nói theo ngôn ngữ tự nhiên học thì những cơn mưa lịch sử chính là cách Trái Đất “trả lại” những gì chúng ta đã tước đi từ rừng.

Cụ thể, rừng không chỉ “nhận mưa” mà “sinh ra mưa” và “nuôi mưa.” Khi rừng biến mất, Trái đất mất đi cơ quan hô hấp và điều tiết nước của mình. Những cơn mưa nhỏ, đều đặn, ổn định và thấm sâu vào lòng đất nuôi dưỡng mạch nước ngầm quanh năm chảy xuống hạ du bị thay thế bằng nắng hạn lâu ngày và mưa lớn kéo dài, gây ra đủ thứ tai họa, từ khô hạn, lũ lụt, sạt lở, nhiễm mặn…

3. Nhìn ra thế giới và bài học cho Việt Nam

Về rừng tự nhiên, hiện nay Lào còn khoảng 46% diện tích, Campuchia khoảng hơn 40%, thế giới trung bình khoảng 30% – trong đó khoảng 1/3 là rừng nguyên sinh. Với con số 0,25%, Việt Nam gần như không còn rừng nguyên sinh — chỉ còn lại những “mảnh vụn rừng.”

Trung Quốc năm 1949 có tỷ lệ che phủ rừng khoảng 8,6 % diện tích rừng, đến năm 2020, nước này có tỷ lệ che phủ rừng khoảng 23,04 %.

Sau thập niên 1950, Trung Quốc đối mặt với nạn sa mạc hóa. Các vùng phía Bắc và Tây Bắc, đặc biệt là Nội Mông, Cam Túc, Thiểm Tây, Hắc Long Giang, liên tục bị bão cát, khô hạn, đất bay, ruộng mất. Đến thập niên 1970, lượng đất bị sa mạc hóa lên tới hơn 3.000.000 km² (gần 1/3 lãnh thổ). Bão cát từ sa mạc Gobi thường xuyên thổi qua Bắc Kinh, Thạch Gia Trang, thậm chí chí lan tới Nhật Bản và Hàn Quốc.

Trước tình trạng này, năm 1978, chính phủ Trung Quốc quyết định xây dựng một “bức tường xanh” dài hàng nghìn km bằng cây cối – nhằm ngăn gió, giữ cát, phục hồi đất đai, gọi là dự án Vạn Lý Trường Thành Xanh. Dự án này có quy mô lớn nhất trong lịch sử nhân loại về trồng rừng: Kéo dài qua 13 tỉnh, bao trùm 4,5 triệu km², sử dụng 42% diện tích đất Trung Quốc. Mục tiêu: Trồng 35 triệu ha rừng chắn gió và phục hồi sinh thái từ năm 1978 đến năm 2050.

Kết quả: Sau hơn 40 năm thực hiện, tỷ lệ che phủ rừng của Trung Quốc tăng từ 8,6% năm 1949 lên hơn 23% vào năm 2020. Riêng khu vực phía Bắc, nơi từng “chết khô” vì cát, đã phục hồi hàng triệu ha thảm thực vật. Theo NASA, từ năm 2000-2017, Trung Quốc đã đóng góp tới 25% mức tăng thêm diện tích lá cây toàn cầu và phần lớn đến từ các chương trình trồng rừng này. Nhiều thành phố, như Bắc Kinh và Lan Châu đã giảm đáng kể số ngày có bão cát mỗi năm (giảm từ hơn 25–30 ngày xuống còn 2–3 ngày/năm). Một số vùng từng bị bỏ hoang nay đã trở lại canh tác được hoặc trở thành khu du lịch sinh thái.

Có rất nhiều bài học ở đây, có lẽ ai cũng tự mình rút ra được, nên tôi không “dài dòng văn tự” nữa. Chỉ nhấn mạnh rằng, trong khi chúng ta tàn phá và xóa sổ rừng thì cùng lúc đó Trung Quốc đã làm nên những kỳ tích trong việc trồng mới và tái sinh rừng.

Không chỉ rừng, Trung Quốc không tàn phá thiên nhiên như Việt Nam. Hầu hết bạn bè tôi đi qua đó về đều nói rằng, chạy hàng nghìn km qua các loại địa hình nhưng không thấy nơi nào họ phá một ngọn núi. Còn chúng ta thì xúc vô tội vạ, hủy hoại không thương tiếc. Ngay Thanh Hóa thôi, và rất gần tôi là Nông Cống, họ phá như thể để hủy diệt. Tôi đã nhiều lần kêu la, nhưng hoặc không ai nghe hoặc rất lâu mới nghe thấy, khi núi đã biến thành vực sâu.

Những gì chúng ta đang phải chịu hôm nay không thể không có bàn tay con người Việt Nam, chính quyền Việt Nam. Tuy thế, không có đất nào không thể hồi sinh, nếu con người có tầm nhìn dài hạn và biết đi cùng quy luật tự nhiên. Rừng không chỉ là cây mà là hệ thống tái tạo nước, đất, khí hậu, văn hóa. Bảo vệ rừng không thể tách rời công việc thay đổi mô hình phát triển – từ khai thác sang tái sinh và gìn giữ.

Nếu Việt Nam biết học theo, có thể phát triển những “bức tường xanh” dọc Trường Sơn, Tây Nguyên, hoặc ven biển miền Trung – nơi thiên tai ngày càng cực đoan. Đó không chỉ là người bảo vệ rừng mà còn chính là người bảo vệ sự sống của con người.

Rừng và Việt Nam, trong cảm nhận của tôi, như hơi thở và sự sống, đây mới chính là một “cộng đồng chung vận mệnh” thật sự. Không giải quyết được vấn đề rừng, mọi nỗ lực của chúng ta (nếu có) đều đứng trước nguy cơ thất bại hoặc trở nên mất hết ý nghĩa.

Mỗi người dân, dù không làm được gì lớn lao nhưng vẫn có thể chung tay bảo vệ và xây dựng ý thức về rừng một cách hiệu quả, bằng cách từ chối những món đồ nội thất và công trình từ rừng. Hành động nhỏ, làm nên ý nghĩa lớn. Hãy cùng nhau thức tỉnh để hồi sinh rừng và hồi sinh chính cuộc sống của chúng ta và các thế hệ con cháu mình.

Thái Hạo

Nguồn: FB Thái Hạo

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Seoul về đêm. Ảnh: Travel oriented, via Wiki commons

Nhà nước “mạnh” để phát triển hay “mạnh” để kiểm soát? Một ngã rẽ của Việt Nam hôm nay

Trong bối cảnh Việt Nam đang đặt ra những mục tiêu phát triển đầy tham vọng cho thập niên tới, bao gồm cả kỳ vọng tăng trưởng cao, cách tiếp cận này gợi mở một câu hỏi lớn hơn: Liệu việc xây dựng một “nhà nước mạnh” theo hướng tập trung quyền lực có thể đồng thời tạo ra động lực bứt phá kinh tế, hay sẽ đặt ra những giới hạn mới cho khả năng thích ứng và đổi mới của hệ thống?

Nên hiểu thế nào về quy chế tỵ nạn của Lê Chí Thành

Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty) đã lên tiếng về trường hợp của (Lê Chí) Thành, trong văn bản của mình, họ khẳng định quan điểm “Không ai nên bị trả về một quốc gia nơi họ đang đối mặt với nguy cơ bị bỏ tù vì lên tiếng tố cáo vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Bất kỳ hành động nào như vậy sẽ đều vi phạm nguyên tắc không trục xuất người tị nạn được quy định trong Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế.”

Công nhân tại một xưởng giày ở Sài Gòn. Ảnh minh họa: Reuters

EU đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch

Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Minh Châu Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới?

Đình chiến của người Mỹ, danh dự của người Ba Tư

Ý niệm rằng Iran là một trung tâm lịch sử, một quốc gia từng là đế chế, một cộng đồng chính trị không chấp nhận bị xếp lại vào vai một kẻ phải nghe lệnh.

Khi xung đột được cảm nhận dưới lăng kính đó, mọi đòn đánh từ bên ngoài không chỉ làm thiệt hại phần cứng quân sự; chúng còn nuôi dưỡng một câu chuyện rất nguy hiểm ở bên trong: Iran không chỉ bị tấn công, Iran bị làm nhục. Và một dân tộc cảm thấy mình bị làm nhục thường không dễ bước vào đình chiến với tâm thế kỹ trị.