Sám hối

Ảnh: VOA
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Thi sĩ Thâm Tâm trong bài thơ “Tống Biệt Hành” đã có những câu thơ làm xao xuyến lòng người:

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí lớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Đây là tâm trạng của người ra đi vẫy vùng chí kiêu hùng. Không ít những người cũng ra đi nhưng là vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Chỉ khác là có những người bị buộc phải ra đi. Không phải là tự nguyện quên em như “hơi rượu say.”

“Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.”

Cảm xúc của người chí sĩ thuở ban đầu ấy hào hùng đó nhưng sẽ còn bi ai hơn khi nghiệp lớn không thành: nước mất nhà tan. Không ít những chí sĩ ấy cuối cùng cũng phải ngậm đắng nổ phát súng oan nghiệt cuối cùng, không phải vào kẻ thù mà vào chính mình. Đó là những tiếng súng tuẫn tiết của những vị tướng của Miền Nam – của Việt Nam Cộng Hòa. Để chấm dứt để chia ly vĩnh viễn cõi đời ô trọc khi mà những kẻ chiến thắng lại là người đã nổ súng trong ngày Tết Mậu Thân 1968 sát hại đồng bào mình.

Và rồi có những người buộc phải ra đi, phải lao vào tử lộ để tìm sự sống mà chính họ cũng chẳng biết đâu là ngày mai: thuyền nhân và “cải tạo.”

Và với người Việt, đó là biến cố của ngày 30/4/1975 mà như Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng thừa nhận là “có triệu người vui có triệu người buồn.”

Khi trải qua cuộc Thế chiến thứ II, hàng triệu người Do Thái bị đẩy vào các trại tập trung để bị đày ải. Một cuộc khủng hoảng cho những người sống sót là tại sao người ngủ khu với mình lại chết trước mắt còn bản thân thì thoát nạn. Nỗi ám ảnh kinh hoàng đó đã để lại sang chấn tâm lý tình cảm nghiêm trọng những người còn sót lại. Nhiều người coi sự may mắn được sống đó lại là tội lỗi và cả nỗi đau thể xác lẫn tâm linh cho họ đến cuối cuộc đời (nếu không được chữa trị).

Không ít người Việt Nam sau biến cố 30/4/1975 cũng trải qua một chấn động tâm lý tương tự. Hàng triệu con người, chỉ trong một sớm một chiều, từ công dân họ thành thành phần “bọn ngụy – ngụy quân ngụy quyền…” Từ một người đang sống cuộc sống tự do của dân Miền Nam nay tự dưng mất trắng. Và tính mạng bị vắt vẻo qua những hàng thép gai, là nỗ lực leo lên các không trục vận cuối cùng tại đại sứ quán Mỹ. Hay là những ngày tháng dài đằng đẵng trên thuyền nan giữa biển khơi. Có không ít người chờ đợi mòn mỏi trong các trại tị nạn của các nước láng giềng, nhưng rồi có người bị sót lại.

Một câu hỏi muôn thuở và đầy nhức nhối “Trời xanh thấu chăng? Vì sao kẻ ác mãi thắng thế và người công chính bị tơi tả dập bầm?”

Đây không phải là lời tự vấn mới nhưng chỉ những người đã trải qua trầm luân cuộc đời thì mới thấy nhói đau thế nào? Ai sẽ lý giải cho một cuộc chiến nồi da xáo thịt? Ai sẽ chịu trách nhiệm cho những tang thương của cuộc chiến và cả thảm trạng nhân đạo vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt Nam: thuyền nhân?

Tôi không phải là một trong số những thuyền nhân năm xưa. Nhưng tôi biết ngay trong thời điểm này, có không ít người vẫn đang phải lưu vong trên chính quê hương mình hoặc phải tất bật nơi xứ người.

Có không ít những giọt nước mắt được chôn chặt trong tim của nhiều người. Chẳng ai muốn lìa bỏ quê hương mình cả. Chẳng ai muốn phải bỏ mình trong những chuyến xe tử thần để vượt biên bằng đủ hình thức cả. Thảm cảnh 39 nạn nhân Việt bị tử vong trên xe đông lạnh vào Anh Quốc, vừa là tiếng khóc vừa là tiếng than của giới trẻ: quê hương có còn là “chùm khế ngọt”?

Trong tiếng xin lỗi, trong lời chia tay và những chuyến lên đường của ngày nay không bằng một phần của những ngày xưa đen tối: 30/4/1975. Nhưng cũng đủ để làm nghẹn nơi cổ họng và mí mắt những giọt lệ cho thân phận của chính mình. Là những đêm dài gặp ác mộng. Và người ta chỉ còn sống trong hoài niệm, sống trong nỗi nhớ nhung như một lần ra đi sinh tử.

Được bước lên đúng con tàu và đi đến được bến bờ mơ ước thì đó là may mắn lớn. Nhưng có ai biết không ít lần những câu hỏi “vì sao”: vì sao cái ác luôn thắng thế? Mà quả thật những kẻ gian manh giảo hoạt trong bất kỳ một lĩnh vực nào thường là người thắng cuộc. “Bên thắng cuộc” ấy cũng chẳng một chút từ tâm: trại cải tạo, khu kinh tế mới, tịch thu gia sản… là bằng chứng. Dù có lấy bao nhiêu việc hay thành công khác để bù để trám vào thì vẫn là một vết thương lòng.

Nhạc sĩ Minh Trân trong một bài hát của mình đã mô tả một phần tâm trạng chơi vơi đó chính là “đường gai dương thế.” Nơi mà những trẻ thơ mắt lạc lõng giữa dòng người. Và các bản nhạc khác nữa của những người lữ hành, những thân phận trôi nổi bèo dạt.

“Ôi! Mẹ ôi! Đời con bao năm tháng qua, kiếp sống phong trần đây đó bao lần tình Mẹ vắng xa. Rồi con yếu đuối, ngã trên đường gai dương thế…”

Bản thân tôi chỉ dần được chữa lành những xúc cảm tâm lý của mình sau nhiều tháng ngày tập “tha thứ” cho chính mình. Nhưng như ngày hôm nay tôi lại phải rùng mình và những cảm xúc xen lẫn khi nhìn những trẻ thơ trong ngày 30/4/1975. Một cái giá quá đắt cho một cuộc chiến. Nhưng một sự rẻ rúng cho hàng chục năm được gọi là hòa bình. Để rồi giờ đây sự thật bẽ bàng là tổ quốc đã bị lợi dụng, dân lành chỉ là công cụ cho một cuộc chiến phi nghĩa.

Khi mà Trung Cộng đang ngang tàng trên quê hương ta, khi mà Biển Đông dậy sóng, khi mà kinh tế, chính trị, quân sự bị chi phối lệ thuộc nước láng giềng. Và thê thảm thay, lời phản đối của dân chúng lại bị trừng phạt bởi những kẻ cầm quyền: án tù cho những cựu binh như nhà thơ Trần Đức Thạch (mới bị bắt lần hai) hay Lê Đình Lượng, cho sinh viên và roi đòn cho những người biểu tình chống “Luật đặc khu.”

Và đó là lúc những vết thương lại rỉ máu, khi vẫn còn những bước chân ra đi và những tiếng ca trong bữa tiệc ngày đổ máu. Ngẫm mà xem, chúng ta trong tư cách quốc gia đã có gì xứng đáng để tự hào – hay là những tượng đài cao to?

Sám hối!

Trần Minh Nhật

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”