Thế yếu của ASEAN thể hiện qua 10 năm im lặng về vấn đề Biển Đông

Tòa Trọng tài Thường trực La Haye (PCA). Ảnh: MUNLawS
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Thu Hằng

Mười bốn nước do Mỹ dẫn đầu, tiếp theo là Liên Minh Châu Âu đã lần lượt ra tuyên bố ủng hộ Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực La Haye về Biển Đông nhân dịp phán quyết này tròn 10 năm. Hai ngày sau, ngày 14/07/2026, Trung Quốc kêu gọi các nước ký vào tuyên bố nên hành động thận trọng và ngừng ủng hộ phán quyết mà Bắc Kinh luôn coi là “vô hiệu và không có giá trị ràng buộc.”

Điều đáng nói là ngoài Philippines, nước trực tiếp liên quan trong tranh chấp và nhiều nước phương Tây, Hiệp hội các nước Đông Nam Á – ASEAN tiếp tục im lặng về sự kiện này. Trong khi đó, phán quyết không chỉ bảo vệ lợi ích của Philippines mà còn có ý nghĩa đối với các nước ASEAN khác có vùng đặc quyền kinh tế bị chồng lấn như Việt Nam, Malaysia, Brunei và Indonesia.

Thiếu niềm tin vào việc Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế

Trong bài phân tích đăng trên trang Asia Times ngày 14/07, John Hemmings, giám đốc Trung tâm An ninh Quốc gia tại Hiệp hội Henry Jackson và cố vấn cấp cao tại Pacific Forum, giải thích phán quyết của Tòa Trọng tài không trao “chủ quyền” cho bất kỳ thực thể nào mà Philippines tuyên bố chủ quyền, nhưng dứt khoát bác bỏ các lập luận pháp lý vô lý của Trung Quốc liên quan đến yêu sách chủ quyền trong “đường 9 đoạn,” mà Bắc Kinh gửi đến Liên Hiệp Quốc năm 2009.

Yêu sách này đã bộc lộ hai vấn đề. Thứ nhất, Bắc Kinh theo đuổi tham vọng mở rộng kiểm soát một tuyến hàng hải chiến lược. Thứ hai, họ coi phán quyết của Tòa Trọng Tài chỉ là “tờ giấy lộn,” có nghĩa là tham gia vào các cơ chế pháp lý quốc tế như Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển – UNCLOS, nhưng sau đó tùy tiện vi phạm các điều khoản của Công ước. Đây là điều đáng báo động hơn cả cho ASEAN. Liệu một Bộ Quy tắc Ứng xử (COC), dù được hoàn thiện hoặc là được ký biên bản ghi nhớ, có thực sự ràng buộc được Bắc Kinh không?

Nguyên tắc đồng thuận và không can thiệp – nền tảng cơ bản của ASEAN – vẫn là mục tiêu dễ bị tác động nhất. Bắc Kinh khai thác triệt để nguyên tắc này trong chiến lược “chia để trị” khiến vai trò trung tâm của ASEAN trở nên vô nghĩa. Vì thụ động, phản ứng yếu ớt trong quyết tâm đúc kết được Bộ Quy tắc Ứng xử, cho nên hiện giờ, ngay sát sườn các nước ASEAN là những tiền đồn quân sự của Trung Quốc (đảo Phú Lâm, đá Chữ Thập, đá Vành Khăn, đá Xu Bi, đá Hải Sâm).

Sự thiếu đoàn kết này còn được thể hiện trong tuyên bố chung gần đây tái ủng hộ Phán quyết 2016. Chỉ một mình Philippines tham gia ký vào tuyên bố cùng với 13 nước khác. Tác giả lưu ý Việt Nam, quốc gia có lợi ích trực tiếp liên quan đến  Biển Đông, không tham gia. Nhưng phải nhắc lại rằng Việt Nam cũng sử dụng “quyền lịch sử” và “bằng chứng lịch sử” để khẳng định chủ quyền đối với một số thực thể ở Biển Đông.

XEM THÊM:

ASEAN ưu tiên giải pháp ngoại giao với Trung Quốc

Tại sao ASEAN im lặng trong suốt 10 năm? Giảng viên Muhammad Syaroni Rofi, Khoa Nghiên cứu Chiến lược Toàn cầu, Khả năng chống chịu và An ninh thuộc Đại học Indonesia, nhấn mạnh rằng ASEAN ưu tiên giải pháp ngoại giao cho vấn đề Biển Đông và chú trọng các cuộc tham vấn về Bộ Quy tắc ứng xử (COC) với Trung Quốc, một cơ chế được cho là “đôi bên cùng có lợi.”

Trả lời phỏng vấn kênh truyền hình Trung Quốc CGTN, ông cho rằng các nhà lãnh đạo ASEAN muốn tránh đối đầu với bất kỳ cường quốc nào, cũng như “tránh mọi nguy cơ bùng phát xung đột,” để bảo đảm tăng trưởng cho khu vực. Điều này đòi hỏi việc duy trì quan hệ hòa bình với tất cả các bên chủ chốt, trong đó có Trung Quốc, Mỹ và các đồng minh.

Tuy nhiên, liệu ASEAN có đủ sức để đối phó với một Trung Quốc đang theo đuổi mô hình quan hệ dựa trên sức mạnh và ảnh hưởng đối với từng nước láng giềng? Trung Quốc ưu tiên thiết lập một trật tự phân cấp, với Bắc Kinh là trung tâm và lan tỏa ra các nước láng giềng, trong đó các thỏa thuận được đàm phán riêng rẽ với từng nước, thay vì với một khối thống nhất có khả năng hành động chung. Theo chuyên gia John Hemmings, đây chính là vấn đề cốt lõi mà ASEAN đang phải đối mặt.

Nguồn: RFI

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” từng được ra mắt tại trụ sở Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam. Ảnh: NXB Hội Nhà văn Việt Nam

Cần “lật sử” (!) và “xuyên tạc lịch sử,” “xúc phạm lãnh tụ” ư?

Hiểu quá khứ để rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước và của mỗi người chúng ta. Chính vì thế việc viết lại các chuyện kể lịch sử và việc đánh giá lại các nhân vật lịch sử là chuyện thường xuyên phải làm của các nhà sử học, cũng như là quyền của mỗi người quan tâm đến lịch sử, và không thể vin vào “sự xuyên tạc lịch sử,” hay “sự xúc phạm lãnh tụ” để “đấu tố” hay  “lên án” họ nhất là để truy tố họ.

Khi “bốn bước chuyển chiến lược” gặp cơn sóng thần đấu tố trên toàn quốc

Điều đang diễn ra tại Việt Nam là một dạng “Cách mạng Văn hóa kỹ thuật số,” Hồng vệ binh không còn đeo băng đỏ mà ẩn sau tài khoản mạng; loa phường không chỉ treo trên cột điện mà nằm trong điện thoại của mỗi người; bản án dư luận được ban hành trước khi tranh luận học thuật kịp bắt đầu. Khi cả xã hội được huy động để săn lùng một câu chữ, một cuốn sách hoặc một cách gọi nhân vật lịch sử, mục tiêu thực sự không còn là bảo vệ sự thật. Đó là việc buộc mọi người phải nhìn quá khứ bằng một đôi mắt duy nhất.

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Bộ máy tuyên truyền CSVN đã thất bại ra sao trong vụ xử lý “Chuyện với Thanh”?

Khi một hệ thống dùng quyền lực để thay thế đối thoại, dùng khẩu hiệu để thay thế sự minh bạch, dùng văn kiện để thay thế trách nhiệm, thì đó không phải là biểu hiện của sức mạnh mà là dấu hiệu của sự lúng túng. Câu chuyện lớn hơn sau vụ việc này không phải là một cuốn sách mà là câu hỏi về khả năng thích ứng của một hệ thống chính trị trước một xã hội đang thay đổi.

Thánh Thiên Nữ Tướng – Những người Mẹ trầm mình trên sông

Những dòng sông lịch sử như sông Hát, sông Thao, sông Nhật Đức, sông Bạch Hạc… không chỉ chứng kiến những giờ phút cuối cùng của triều đại Trưng Nữ Vương, mà còn là nơi lưu dấu khí phách lẫm liệt của 36 vị nữ tướng. Tiêu biểu là nữ tướng Thánh Thiên, người đến từ vùng ven biển Đông Bắc.