Tiến sĩ và ‘Nghệ sĩ nhân dân’

Phân biệt giữa "Nghệ sĩ nhân dân" và tiến sĩ. Ảnh: FB Nguyễn Tuấn
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Thỉnh thoảng, giới nghệ sĩ có ý tưởng ngồ ngộ: đề xuất rằng những ‘Nghệ sĩ nhân dân’ (NSND) nên được xem là tương đương tiến sĩ [1]. Nhưng ý tưởng này thể hiện sự hiểu sai về danh hiệu và bằng cấp (học vị).

NSND là một danh hiệu hay tước hiệu (title) có nguồn gốc từ Liên Xô cũ. Theo như qui chế hiện hành thì danh hiệu này được trao tặng hay ‘phong’ cho những nghệ sĩ có những đóng góp quan trọng cho nghệ thuật và xã hội. Một tiêu chí quan trọng trong qui định này là “Trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội, có tài năng xuất sắc, có cống hiến nhiều cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam”. Tức là danh hiệu này mang tính chánh trị. Những nghệ sĩ lừng danh như Hùng Cường chắc chắn không đáp ứng tiêu chí này.

Tiến sĩ là một bằng cấp do một đại học cấp sau khi đương sự đã đạt những tiêu chuẩn về nghiên cứu khoa học và học thuật. Thường, người được cấp bằng tiến sĩ phải trải qua ít nhứt là 3 năm học hành và nghiên cứu, và nghiên cứu phải thể hiện một đóng góp có ý nghĩa trong chuyên ngành. Người tốt nghiệp tiến sĩ (Doctor of Philosophy hay PhD) được phép dùng danh hiệu ‘Doctor’ mà Việt Nam dịch là ‘Tiến sĩ’. Tiêu chí cấp bằng tiến sĩ không có liên quan gì đến quan điểm chánh trị của đương sự.

Ngoài ra, còn có nhiều khác biệt giữa NSND và tiến sĩ. NSND không phải học trong môi trường khoa bảng; còn tiến sĩ phải qua đào tạo trong môi trường khoa bảng. NSND không cần viết luận án và bảo vệ luận án; tiến sĩ phải thực hiện hai việc đó. NSND có đóng góp rộng lớn trong xã hội; tuyệt đại đa số tiến sĩ chẳng có đóng góp gì ở cấp xã hội mà chỉ có những đóng góp rất nhỏ trong chuyên ngành. NSND — nếu đúng định nghĩa — thể hiện một cái mà phương Tây gọi là ‘accomplishment’; còn tuyệt đại đa số tiến sĩ không bao giờ đạt được cấp độ đó, mà chỉ ở mức ‘attainment’ thôi. Xét về mức độ ảnh hưởng tôi nghĩ NSND có ảnh hưởng hơn nhiều so với đa số tiến sĩ.

Nói chung, ở Việt Nam có nhiều hiểu lầm về văn bằng tiến sĩ. Mấy năm trước có qui định rằng trong ngành y các giảng viên đại học có bằng bác sĩ ‘chuyên khoa II’ được xem là tương đương tiến sĩ, và đây cũng là một sự hiểu sai. Nay đến các vị bên ngành nghệ thuật cũng hiểu sai và đòi ‘tương đương hoá’ như thế. Người ta phải hỏi nếu NSND là tương đương với tiến sĩ thì NSƯT [Nghệ sĩ ưu tú] tương đương với bằng cấp gì? Một nghệ sĩ có bằng tiến sĩ nhưng có thể suốt đời không bao giờ đạt được danh hiệu NSND; ngược lại, một NSND không có bằng cấp thì không thể là tiến sĩ.

Chẳng hiểu sao ở Việt Nam người ta (kể cả mấy vị trong Nhà nước) thích lấy cái bằng tiến sĩ làm ‘benchmark’. Bệnh viện, đại học lấy cái bằng đó làm tiêu chuẩn bổ nhiệm và đề bạt. Trước đây, có ý kiến cho rằng phải có bằng tiến sĩ mới ‘đột phá tư duy’. Thế rồi, như là một hệ quả, người ta ‘thần thánh hoá’ cái văn bằng tiến sĩ và ‘thần tượng hoá’ những người có bằng tiến sĩ, xem họ như những người xuất chúng. Nhưng đó là một nhận thức sai. Chúng ta đã thấy nhiều vị tiến sĩ, nhứt là trong bộ máy Nhà nước, phát biểu những câu hay có những cách nhìn không xứng tầm của người được trao học vị đó. Cái danh nó không nói lên mức độ đóng góp, càng không nói lên trình độ.

Tôi nghĩ một phần của vấn đề là do người Việt chúng ta xem sự học là để ‘an thân’. Tôi xin nói thêm rằng ‘học để an thân’ ở đây là học để có cái danh, để làm nhiều tiền, và từ đó được người đời ngưỡng mộ. Nói cách khác, người Việt có xu hướng nghĩ rằng sự học là để ‘vinh thân phì gia’. Tôi nghĩ đó là một quan điểm sai. Học không phải để vinh thân phì gia, mà là để tự mình khai sáng (tức xoá bỏ cái vô minh), để phụng sự xã hội, và để lãnh đạo. Ở thế kỷ 21 mà vẫn xem sự học là để vinh thân phì gia thì thật là… lạc hậu vậy.

Quay lại ý tưởng tương đương hoá nghệ sĩ nhân dân và tiến sĩ, tôi nghĩ người đề ra ý tưởng này hiểu sai về bản chất của hai thực thể. Không nên và không thể xem nghệ sĩ nhân dân tương đương với tiến sĩ. Nếu cần thì nên ban hành qui chế về bằng ‘Tiến sĩ danh dự’, chứ không thể đánh đồng NSND là tiến sĩ được.

GS Nguyễn Văn Tuấn

[1] https://quochoitv.vn/de-xuat-nghe-si-nhan-dan-duoc-tinh-la-tien-si

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…