Tô Lâm đến Mỹ làm gì và chờ đợi gì?

Có một cách nhìn “thực dụng đến tàn nhẫn” về chuyến đến Mỹ vào ngày 19 tháng 2 tới đây của ông Tô Lâm: Hội đồng Hòa Bình mà ông Trump triệu tập chỉ là cái sân khấu, còn vở diễn thật nằm ở thuế quan!
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Trung Điền

Có một cách nhìn “thực dụng đến tàn nhẫn” về chuyến đến Mỹ vào ngày 19 tháng 2 tới đây của ông Tô Lâm (và rộng hơn là các chuyến đi dồn dập của giới lãnh đạo Việt Nam sang Mỹ thời gian qua): Hội đồng Hòa Bình mà ông Trump triệu tập chỉ là cái sân khấu, còn vở diễn thật nằm ở thuế quan. Lý do đơn giản là trong trật tự Trump 2.0, thuế quan không còn là công cụ kinh tế thuần túy; nó là đòn bẩy địa chính trị và cũng là hệ thống kỷ luật chuỗi cung ứng.

Vấn đề là nếu Tô Lâm xin “hạ tariff” hoặc xin “nới tay” với nghi ngờ trung chuyển, thì rốt cuộc ai được lợi? Và Việt Nam có đang bước vào một bẫy trung chuyển hay mở ra một cửa sổ để tái cấu trúc nền kinh tế nhằm đạt tăng trưởng GDP lên 10% kể từ năm 2026?

Từ mùa hè 2025, Washington đã đóng khung Việt Nam bằng con số: 20% cho phần lớn hàng “Việt Nam,” và 40% cho phần bị coi là transshipping (hàng có xuất xứ nước khác, đặc biệt bị nghi là Trung Quốc đi qua Việt Nam rồi xuất sang Mỹ). Reuters dẫn dữ liệu hải quan Việt Nam cho thấy thuế 20% có hiệu lực từ 7/8/2025, và mức 40% áp cho trung chuyển.

Tại sao Mỹ nhấn vào “trung chuyển”? Vì Washington cho rằng Việt Nam là điểm né thuế cho hàng Trung Quốc: Thay nhãn, làm công đoạn cuối, hoặc pha trộn tỷ lệ linh kiện để “đủ điều kiện” xuất xứ. Đó là lý do Mỹ đồng thời tăng cường các cơ chế chống lẩn tránh thuế- ví dụ CBP (U.S. Customs and Border Protection – Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ – ) công khai các vụ điều tra theo Enforce and Protect Act (EAPA), nhấn mạnh mục tiêu chặn “illegal transshipment” và “duty evasion.”

Nói thẳng ra là mục tiêu chiến lược của Trump là Trung Quốc. Nhưng địa bàn kiểm soát lại nằm ở những nền kinh tế “trung gian” có thặng dư xuất khẩu lớn và chuỗi cung ứng gắn chặt với Trung Quốc và Việt Nam là một trường hợp tiêu biểu. Tờ Washington Post cũng mô tả cách tiếp cận này như một đòn “siết ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc,” đặt Việt Nam vào thế khó vì nhiều ngành xuất khẩu dựa nhiều vào linh kiện/đầu vào từ Trung Quốc, trong khi định nghĩa “trung chuyển” mơ hồ có thể mở rộng.

Nếu “20%” đã đóng dấu lên hàng Việt, thì “40%” mới là lưỡi dao treo trên đầu vì nó biến câu chuyện từ “đàm phán thương mại” thành đàm phán về chuẩn xuất xứ và mức độ tin cậy.

Khi Việt Nam muốn Mỹ “hạ thấp thuế trung chuyển,” thực chất Việt Nam đang xin ba điều đối với ông Trump.

Một là yêu cầu một định nghĩa hẹp hơn về “transshipment” (chỉ nhắm vào hàng gần như nguyên chiếc đi qua Việt Nam).

Hai là yêu cầu một cơ chế chứng minh xuất xứ ít rủi ro hơn cho doanh nghiệp (quy tắc rõ ràng, thủ tục dự đoán được).

Ba là yêu cầu Mỹ chấp nhận Việt Nam như một mắt xích thay thế Trung Quốc ở một số ngành, thay vì coi Việt Nam là “cửa sau.”

Nhưng xin như vậy đồng nghĩa với việc Việt Nam phải trả lời câu hỏi mà Washington sẽ hỏi ngược lại: “Các ông làm gì để chứng minh Việt Nam không là xưởng ‘rửa xuất xứ’?”

Hãy nhìn cấu trúc thương mại mà Reuters mô tả: Dù xuất khẩu sang Mỹ vẫn rất lớn, Việt Nam tiếp tục phụ thuộc nặng vào nhập khẩu từ Trung Quốc cho sản xuất; 8 tháng đầu 2025, nhập từ Trung Quốc tăng mạnh và đạt quy mô lớn. Điều đó phản ánh một thực tế: Phần “Made in Vietnam” trong nhiều ngành đôi khi là lắp ráp – hoàn thiện – đóng gói, còn giá trị cốt lõi nằm ở linh kiện, máy móc, vật tư nhập khẩu.

Trong cấu trúc ấy, nếu Mỹ nới tay thì FDI xuất khẩu (điện tử, máy móc, dệt may, đồ gỗ…) là nhóm “thở” mạnh nhất vì họ sống bằng đơn hàng Mỹ. Các nhà cung cấp Trung Quốc cũng hưởng lợi gián tiếp nếu linh kiện/đầu vào của họ tiếp tục chảy vào Việt Nam để tạo ra hàng xuất Mỹ (tức “China + Vietnam” như một dây chuyền). Sau cùng, doanh nghiệp Việt nội địa chỉ hưởng lợi đáng kể nếu họ thật sự chen vào được chuỗi cung ứng (công nghiệp hỗ trợ, vật liệu, thiết kế, logistics, thương hiệu), thay vì đứng ngoài nhìn FDI chạy.

Những chi tiết trên cho chúng ta thấy rằng xin giảm thuế mà không đổi cấu trúc thì rõ ràng là chỉ giải quyết trong ngắn hạn, còn về lâu dài thì trở thành khoản trợ cấp gián tiếp cho mô hình FDI xuất khẩu – nhập đầu vào Trung Quốc.

Câu hỏi đặt ra là ông Tô Lâm xin giảm thuế tariff sẽ làm lợi cho ai?

Câu trả lời nghiêm khắc nhưng công bằng là ông Tô Lâm làm lợi cho ai phụ thuộc vào cái giá mà Việt Nam dám trả để đổi lấy giảm thuế.

– Nếu mục tiêu chỉ là “xin Mỹ nới tay” để giữ nhịp tăng trưởng 1–2 năm tới, thì nhóm hưởng lợi trước mắt sẽ là FDI xuất khẩu và các chuỗi cung ứng có đầu vào lớn từ Trung Quốc và Hàn Quốc;

– Nếu Việt Nam dùng đàm phán thuế như “cửa ải” để tiến đến  việc cải cách cấu trúc, đạt tiêu chuẩn xuất xứ, chống lẩn tránh, nâng nội địa hóa thật, mở đất cho tư nhân Việt tham gia chuỗi cung ứng, thì lợi ích mới có cơ hội quay về nền kinh tế Việt Nam.

Reuters gần đây cho biết Việt Nam vẫn đang đàm phán ở Washington, sẵn sàng tăng mua hàng Mỹ, và xuất khẩu sang Mỹ đạt mức kỷ lục năm trước dù có thuế. Điều đó cho thấy Hà Nội vẫn đang cố “đổi chác” theo kiểu cổ điển: Mua thêm để giảm áp lực. Nhưng mua thêm chỉ là động tác “giảm nhiệt.” Tái cấu trúc mới là câu trả lời dài hạn.

Tóm lại, vụ thuế quan của Trump đã biến thành bài kiểm tra cho chính ông Tô Lâm về vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế để tạo đột phá như ông thường đề cập. Quốc gia nào chỉ giỏi “xin – hứa – ký MOU” sẽ bị kẹt trong vai trung chuyển. Quốc gia nào dùng cú sốc để nâng tiêu chuẩn, làm sạch xuất xứ, nâng cấp nền kinh tế tư nhân nội địa vào chuỗi cung ứng, quốc gia đó biến rủi ro thành cơ hội.

Nếu Việt Nam không muốn bị định danh là “bẫy trung chuyển,” thì Việt Nam phải chứng minh điều ngược lại bằng hành động cụ thể trong việc tăng trưởng GDP: Tạo giá trị tại chỗ, không chỉ “tạo container tại cảng.”

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biển Đông. Ảnh minh họa: DW

Cập nhật tình hình tại quần đảo Hoàng Sa và bãi Hoàng Nham tháng 4/2026

Dưới đây là tình hình quần đảo Hoàng Sa chiếm đóng bởi Trung Quốc và vùng tranh chấp bãi Hoàng Nham thuộc chủ quyền Philippines, dựa trên báo cáo tình báo mở, hình ảnh vệ tinh từ AMTI – CSIS, Reuters, WSJ, ABC News và các nguồn độc lập khác (cập nhật đến tháng 4/2026).

Khán giả theo dõi phim "The General" công chiếu tại SBTN Studio, TP. Garden Grove, Nam California hôm 18/4/2026. Ảnh: FB The General: Vietnam in the Age of To Lam

Nam California: Người xem nói gì sau buổi chiếu “The General”?

Thật ấm lòng khi được gặp lại những gương mặt đồng hương thân quen trong nhiều lĩnh vực: Giáo dục, thương mại, truyền thông, và nghệ thuật đến tham dự.

Nhiều người mong muốn có thêm các buổi chiếu tiếp theo để giới thiệu bộ phim đến bạn bè và gia đình. Một số người có dự định mang phim vào các đại học và các trường Việt Ngữ. Một nhà báo được đào tạo từ BBC ngỏ ý tham gia vào nhóm cố vấn cho dự án phim tiếp theo…

Một con phố Sài Gòn trước năm 1975. Ảnh: FB Manh Dang/ Internet

“Sài Gòn đẹp lắm”

Chúng ta vẫn thường nghe nhạc phẩm này trong phiên bản điệu Cha-cha-cha vui tươi, phóng khoáng, như nhịp sống náo nhiệt, hối hả của phố thị phồn hoa.

Thế nhưng, cách nay hai tháng, tôi chợt thấy lòng mình thắt lại khi nghe lại bản nhạc ấy trong một không gian hoàn toàn khác. Chúng được dùng làm nhạc nền mở đầu và kết thúc cho bộ phim tài liệu “The General” của nữ đạo diễn Laura Brickman. Để rồi từ đó, “Sài Gòn đẹp lắm” trong tôi đã trở thành một nỗi ám ảnh đầy day dứt.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Chuyến thăm cấp nhà nước của Tô Lâm tới Trung Quốc: “Trở đi mắc núi, trở lại mắc sông?”

Khẳng định kiểu “phát triển quan hệ Việt Nam – Trung Quốc là lựa chọn chiến lược, có ý nghĩa toàn cục và lâu dài…” dần trở nên lạm phát. Lần này cũng vậy. Truyền thông nhấn mạnh kim ngạch thương mại kỷ lục, hợp tác hạ tầng, AI, mạng 5G, đổi mới sáng tạo… Nhưng về bản chất, quan hệ Trung – Việt vẫn vận hành trên nền tảng cũ: Hợp tác kinh tế nhiều mặt song hành với nghi kỵ chiến lược sâu sắc.