Tư duy mới về an ninh của Cộng Sản Việt Nam?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Đến tham dự buổi lễ kỷ niệm 64 năm ngày thành lập ngành công an nhân dân tại Bộ công an ở Hà Nội hôm 19 tháng 8, Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng Cộng sản Việt Nam, đã có một bài nói chuyện khá đặc biệt. Ngoài việc đề cập về một số nhiệm vụ mới của ngành công an, ông Dũng đã đặc biệt chỉ thị Bộ công an thay đổi cung cách hoạt động với một tư duy mới nhằm đáp ứng những biến chuyển của tình hình Việt Nam mà ông Dũng gọi là “đột biến” trong hai năm trở lại đây. Theo ông Nguyễn Tấn Dũng thì tư duy mới đó là: “cần phải nhạy bén, đặt an ninh quốc gia trong mối quan hệ qua lại với kinh tế, xã hội để bảo đảm vững chắc an ninh chính trị”. Với tư duy này, ông Dũng đã chỉ thị cho lực lượng công an phải: “tập trung đấu tranh, ngăn chận các thủ đoạn kích động ly khai dân tộc. Tăng cường triệt phá, bóc gỡ tình báo gián điệp. Chủ động ngăn chận không để xảy ra bạo loạn. Ngăn chận cho được việc lợi dụng tự do tín ngưỡng tôn giáo, vi phạm pháp luật gây rối trật tự xã hội”. Và để làm được những điều trên, ông Dũng còn yêu cầu lực lượng công an phải nắm bắt tình hình, đẩy mạnh hợp tác quốc tế, không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống.

Cái gọi là tư duy mới mà ông Dũng chỉ thị cho ngành công an nói trên, thật ra không có gì là mới ngoại trừ ông Dũng nêu lên vấn đề “đột biến” của tình hình kinh tế, xã hội trong hai năm trở lại đây, chứng tỏ những cuộc nổi dậy của quần chúng mà ông Dũng gọi là các cuộc bạo loạn xã hội đã làm chế độ của ông lo sợ. Thật vậy, những vấn đề mà ông Dũng yêu cầu lực lượng công an phải ngăn chận – không phải là những điều chưa hề xảy ra, nhưng do nhịp độ xảy ra dồn dập, đã đẩy lực lượng công an càng lúc càng rơi vào tình thế lúng túng đối phó. Những vấn đề an ninh mà ông Dũng yêu cầu lực lượng công an phải giải quyết tập trung vào 4 hiện tượng như sau:

Thứ nhất là ngăn chận các thủ đoạn kích động ly khai dân tộc. Ông Dũng muốn ám chỉ đến những cuộc chống đối của đồng bào sắc tộc tại Tây Nguyên ầm ĩ kéo dài hơn 2 thập niên qua. Ông Dũng từng là Thứ trưởng Bộ công an trước khi được ông Võ Văn Kiệt bổ nhiệm làm phó Thủ tướng đặc trách ổn định Tây Nguyên từ năm 2000, cho thấy là tình hình Tây Nguyên đã không ổn định chút nào. Cuối tháng 7 vừa qua, lực lượng công an đã khoe là bắt giữ hai người lãnh đạo cao cấp nhất của lực lượng FULRO tại Gia Lai. Theo công an mô tả thì hai người này đã hoạt động chống lại nhà nước Cộng sản Việt Nam trong suốt 20 năm qua, nhờ sự che giấu của các buôn làng ở vùng Tây Nguyên. Sự khoe khoang thành tích này đã để lộ cho người ta thấy là lực lượng công an và cả ông Nguyễn Tấn Dũng đều thất bại trong việc ngăn chận sức đối kháng bền bỉ của người sắc tộc.

Thứ hai là triệt phá, bóc gỡ tình báo gián điệp. Đây là thủ đoạn của Hà Nội nhằm ngăn chận quyền tự do thông tin của người dân khi sử dụng mạng Internet để trao đổi quan điểm và tin tức lẫn nhau giữa những người Việt ở trong và ngoài nước. Cộng sản Việt Nam đã từng dùng tội danh gián điệp để gán ghép cho các ông Nguyễn Khắc Toàn, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn khi những người này đã gửi các bài phê phán chế độ cho những người quen biết ở hải ngoại. Với làn sóng bộc phát của phong trào dân báo qua các phương tiện Blog, Facebook, Youtube, WordPress…. đã làm cho Cộng sản Việt Nam khó có thể ngăn chận những thông tin nhanh chóng về các biến cố xảy ra ở trong nước, nhất là những lúng túng đối phó của công an hay của các cấp chính quyền về các đòi hỏi của dân chúng hiện nay. Những diễn biến này đã làm thu hẹp khoảng không gian quyền lực của chế độ lên đời sống người dân, khiến cho Hà Nội lo ngại. Nhưng Hà Nội lại không dám công nhận sự yếu kém này mà lại đổ cho sự xúi giục của các thế lực từ bên ngoài, và hô hào lực lượng an ninh phải tận lực bóc gỡ tình báo gián điệp. Điều này cho thấy là ông Dũng và lực lượng an ninh cộng sản Việt Nam đã bị ám ảnh cùng tột khi nhìn đâu cũng thấy có kẻ thù, gián điệp.

Thứ ba là ngăn chận không để xảy ra bạo loạn. Đây là mối lo canh cánh bên lòng của cấp lãnh đạo Cộng sản Việt Nam kể từ khi biến cố Đông Âu bùng nổ vào năm 1989, đưa đến sự tan rã toàn diện các chế độ cộng sản tại Đông Âu và giựt sập thành trì vô sản chuyên chính tại Liên Xô vào năm 1991. Những thay đổi xã hội đến từ cải tổ kinh tế nhưng tiếp tục kềm kẹp chính trị chắc chắn sẽ tạo ra những hiện tượng chênh lệch giàu nghèo và tham ô nhũng lạm mà dân oan khiếu kiện là trường hợp điển hình. Từ đó những biến động, xung đột giữa các tầng lớp quần chúng giầu nghèo, giữa thường dân và thành phần quyền lực là điều đương nhiên. Hà Nội cho rằng những hiện tượng xung đột, bất mãn này sẽ bị lực lượng dân chủ khai thác để đẩy mạnh những đòi hỏi cải cách về chính trị như đòi dân chủ đa nguyên, tôn trọng nhân quyền, và chế độ đã tuyên truyền rằng những đòi hỏi này sẽ dẫn đến bạo loạn vì có mục tiêu lật đổ chính quyền chuyên chính. Dùng chữ bạo loạn để gán ghép cho những thay đổi dân chủ hóa là âm mưu của Cộng sản Việt Nam nhằm đe dọa nội bộ về nguy cơ tan rã nếu đảng chấp nhận dân chủ đa nguyên. Đây là sự cố thủ trong lô cốt độc tài Mác Lênin của Hà Nội. Sự kiện Nguyễn Tấn Dũng chỉ thị cho lực lượng công an tăng cường ngăn chận để không xảy ra bạo loạn cho thấy là hai đối sách về chống tham nhũng và giải quyết vấn đề bồi hoàn ruộng đất của người dân đã không đạt kết quả như chế độ mong muốn.

Thứ tư là ngăn chận cho được việc lợi dụng tự do tín ngưỡng tôn giáo, vi phạm pháp luật gây rối trật tự. Những cuộc đấu tranh đòi lại tài sản của các cơ sở tôn giáo đã bị Cộng sản Việt Nam chiếm đoạt từ nhiều thập niên qua đã bộc phát một cách mạnh mẽ từ sau khi Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội đòi lại Khu Nhà Chung, và Dòng Chúa Cứu Thế đòi lại khu đất ở địa phận Thái Hà từ đầu năm 2008. Làn sóng hàng ngàn, rồi hàng chục ngàn và lên đến hàng trăm ngàn giáo dân tham dự các Thánh lễ cầu nguyện cho Thái Hà, và mới đây cho Tam Tòa, đã biểu hiện rất nhiều đặc tính của đấu tranh Bất Bạo Động mà công an Cộng sản Việt Nam khó có thể ngăn chận. Các buổi lễ cầu nguyện đã được tổ chức công khai, ôn hòa nên đã thu hút đông đảo giáo dân tham gia. Dù có bị công an giả làm du đãng tấn công, các giáo dân vẫn không chống trả, duy trì kỷ luật và cương quyết tụ tập cầu nguyện dù có bị công an răn đe, sách nhiễu. Có thể nói là lực lượng an ninh cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn bó tay trước các hình thái đấu tranh ôn hòa, bất bạo động của giáo dân qua những buổi lễ này. Giải tán các buổi lễ cầu nguyện của giáo dân không được, Cộng sản Việt Nam lại xách mé gọi đó là “lợi dụng tự do tín ngưỡng để vi phạm pháp luật, gây rối trật tự”, và núp dưới tội danh vu cáo này để mang một số giáo dân ra xét xử hầu răn đe các giáo dân khác. Rất tiếc cho chế độ là hành vi “côn đồ” này của chính nhà nước đã bị phản ứng ngược, đó là các phiên tòa xét xử những giáo dân bị kết án là vi phạm trật tự xã hội đã biến thành nơi hạch tội chế độ Cộng sản Việt Nam.

Tổng kết lại, những điều mà ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ thị cho lực lượng công an ngăn chận trong ngày lễ truyền thống của công an hôm 19 tháng 8 vừa qua cho chúng ta thấy là Cộng sản Việt Nam đang lo ngại những biến chuyển đột phá của tình hình với nguy cơ giựt sập hệ thống đương quyền. Dù cố tình xuyên tạc và bóp méo chính nghĩa của các cuộc đấu tranh, ông Nguyễn Tấn Dũng và lực lượng an ninh đều thấy rõ là số người dân tham gia chống lại chế độ Hà Nội ngày một gia tăng, xảy ra cùng khắp ở nhiều nơi. Những cuộc đấu tranh này rất ôn hòa, bất bạo động khiến cho công an khó có thể tìm lý cớ ngăn chận. Khi phải dùng đến biện pháp vu khống cho các buổi lễ cầu nguyện của giáo dân là “gây rối trật tự” và dở trò vũ phu đối với các vị tu hành cùng các giáo dân tay không tấc sắt, rõ ràng là Cộng sản Việt Nam đã cùng đường và đang tự quấn vào cổ mình những sợi giây oan nghiệt.

Trung Điền
Ngày 22 Tháng 8 Năm 2009

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Seoul về đêm. Ảnh: Travel oriented, via Wiki commons

Nhà nước “mạnh” để phát triển hay “mạnh” để kiểm soát? Một ngã rẽ của Việt Nam hôm nay

Trong bối cảnh Việt Nam đang đặt ra những mục tiêu phát triển đầy tham vọng cho thập niên tới, bao gồm cả kỳ vọng tăng trưởng cao, cách tiếp cận này gợi mở một câu hỏi lớn hơn: Liệu việc xây dựng một “nhà nước mạnh” theo hướng tập trung quyền lực có thể đồng thời tạo ra động lực bứt phá kinh tế, hay sẽ đặt ra những giới hạn mới cho khả năng thích ứng và đổi mới của hệ thống?

Nên hiểu thế nào về quy chế tỵ nạn của Lê Chí Thành

Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty) đã lên tiếng về trường hợp của (Lê Chí) Thành, trong văn bản của mình, họ khẳng định quan điểm “Không ai nên bị trả về một quốc gia nơi họ đang đối mặt với nguy cơ bị bỏ tù vì lên tiếng tố cáo vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Bất kỳ hành động nào như vậy sẽ đều vi phạm nguyên tắc không trục xuất người tị nạn được quy định trong Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế.”

Công nhân tại một xưởng giày ở Sài Gòn. Ảnh minh họa: Reuters

EU đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch

Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Minh Châu Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới?

Đình chiến của người Mỹ, danh dự của người Ba Tư

Ý niệm rằng Iran là một trung tâm lịch sử, một quốc gia từng là đế chế, một cộng đồng chính trị không chấp nhận bị xếp lại vào vai một kẻ phải nghe lệnh.

Khi xung đột được cảm nhận dưới lăng kính đó, mọi đòn đánh từ bên ngoài không chỉ làm thiệt hại phần cứng quân sự; chúng còn nuôi dưỡng một câu chuyện rất nguy hiểm ở bên trong: Iran không chỉ bị tấn công, Iran bị làm nhục. Và một dân tộc cảm thấy mình bị làm nhục thường không dễ bước vào đình chiến với tâm thế kỹ trị.