Ukraine giờ đây là cuộc chiến của Châu Âu

Khúc sông Dnipro gần thủ đô Kyiv, Ukraine, tháng 2/2025. Ảnh: Thomas Peter/ Reuters
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Nguồn: This Is Europe’s War Now,” Dmytro Kuleba, New York Times, 03/03/2025

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Thứ Sáu vừa qua (28/02/2025), khi Volodymyr Zelensky rời khỏi Nhà Trắng với vẻ mặt buồn bã, Tổng thống Trump đã viết trên mạng xã hội rằng nhà lãnh đạo Ukraine có thể “quay lại khi ông ta sẵn sàng cho Hòa bình.”

Hòa bình là một từ rất mạnh, nhưng để hiểu được ý nghĩa thực sự của nó, người ta phải xem xét bối cảnh mà nó được dùng. Trong cùng ngày mà Trump nói về tầm quan trọng của hòa bình và tiễn Zelensky về nhà để suy nghĩ về điều đó, Nga đã phóng hơn 150 máy bay không người lái tấn công vào các thành phố của Ukraine. Trump nhấn mạnh rằng ông đang đạt được tiến triển lớn hướng tới hòa bình với Tổng thống Nga Vladimir Putin, nhưng Putin chỉ tăng cường các cuộc tấn công của mình kể từ khi Trump lên nhậm chức.

Hôm Chủ Nhật (02/03/2025), các nhà lãnh đạo châu Âu, cùng Tổng thư ký NATO Mark Rutte và Thủ tướng Canada Justin Trudeau đã tập trung tại London theo lời mời của Thủ tướng Anh Keir Starmer, cùng nhau cam kết tăng cường hỗ trợ cho Ukraine và xây dựng một kế hoạch chấm dứt chiến tranh có thể giành được sự ủng hộ của Trump.

Người châu Âu hiểu, trong khi chính quyền Trump dường như không hiểu, rằng Ukraine muốn một thỏa thuận hòa bình – họ chỉ không muốn bị phá hủy bởi các điều khoản của thỏa thuận hòa bình. Nỗi ám ảnh của Putin là toàn bộ lãnh thổ Ukraine, không phải NATO, cũng không phải một dải đất của Ukraine. Nếu Ukraine vẫn độc lập và được trang bị vũ khí vào cuối các cuộc đàm phán, Putin sẽ không cho đó là kết thúc. Ông sẽ chấp nhận một phần của Ukraine ngày hôm nay, để chiếm được toàn bộ đất nước vào ngày mai.

Nếu vấn đề thực sự nằm ở NATO, thì Putin đã chẳng dễ dàng chấp nhận Thụy Điển và Phần Lan gia nhập vào năm 2023 như vậy. Ngày nay, biên giới của NATO còn gần St. Petersburg hơn biên giới của Ukraine với Moscow.

Mục đích của Putin cũng không phải là giữ lại khoảng 20% lãnh thổ mà Nga đã chiếm được từ Ukraine cho đến nay trong cuộc chiến này. Putin không thể chấp nhận một Ukraine độc lập, bởi trong 300 năm qua hầu như không có người tiền nhiệm nào của ông có thể chấp nhận điều đó. Và nếu Ukraine thành công như một nền dân chủ phương Tây, nó sẽ trở thành mối đe dọa trực tiếp đến sự chấp nhận của người dân Nga đối với mô hình chuyên chế của Putin.

Trump đã đưa lệnh ngừng bắn ở Ukraine trở thành trọng tâm trong chính sách đối ngoại của mình đến mức ông không thể không thành công. Ông không thể không đạt được thỏa thuận, và chắc chắn không thể để Ukraine trở nên như Afghanistan của Joe Biden, một thảm họa chính sách đối ngoại đã định hình phần còn lại trong nhiệm kỳ tổng thống của Biden.

Bị mắc kẹt bởi tham vọng của chính mình, Trump khao khát thành công nhanh chóng – kết quả là, vào tuần trước, ông đã tấn công Zelensky, người dám cản đường ông khi kiên quyết bảo vệ các điều khoản mà Ukraine có thể chấp nhận. Putin hiểu rõ điều này. Do đó, ông có thể nhượng bộ một lệnh ngừng bắn để đạt được lợi ích tối đa từ Trump, nhưng ông sẽ không từ bỏ mục tiêu chiến lược là phá hủy Ukraine. Nếu không có đảm bảo an ninh, thì đến một lúc nào đó, chiến tranh sẽ lại bắt đầu.

Những sự kiện ngày Thứ Sáu [28/02/2025] vừa qua đã chính thức hóa một thực tế mới, điều đã dần trở nên rõ ràng sau nhiều tuần: Mỹ vẫn muốn lãnh đạo thế giới, nhưng đó là một thế giới khác. Và nếu còn tia hy vọng nào sau cảnh tượng Trump và Phó Tổng thống J.D. Vance chỉ trích Zelensky tại Phòng Bầu dục, thì có lẽ là làn sóng chấn động mà cảnh tượng đó gây ra trên khắp châu Âu. Các nhà lãnh đạo châu Âu từng nghe lời cảnh báo của Vance tại Munich vào tháng 2 giờ đây hiểu rằng họ không thể chỉ đơn giản chờ đợi Trump hết nhiệm kỳ, như họ đã làm trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông. Bất kỳ ai vẫn còn nghi ngờ điều đó đã bị thuyết phục bởi những sự kiện của ngày Thứ Sáu.

Châu Âu đã thực hiện những bước đi quan trọng và hứa sẽ làm nhiều hơn nữa: Các hội nghị thượng đỉnh, các cuộc điện đàm, các dự thảo quyết định về việc gia tăng chi tiêu quốc phòng, và các thông báo hỗ trợ cho Ukraine đang xuất hiện với tốc độ chóng mặt. Dù những diễn biến này được hoan nghênh, nhưng chúng vẫn không trả lời được câu hỏi cơ bản nhất về tương lai của Ukraine và phần còn lại của châu Âu: Khi nào? Khi nào thì những ý tưởng này mới trở thành quyết định được thực hiện?

Đòn bẩy của Trump đối với Ukraine là vũ khí và tiền bạc, hai thứ mà Ukraine cần để tiếp tục cuộc chiến sinh tồn và duy trì sự ổn định kinh tế. Châu Âu có thể giành được thế thượng phong từ tay tổng thống Mỹ bằng hai động thái: đưa ra một thỏa thuận thay thế về khoáng sản của Ukraine, và tịch thu tài sản bị đóng băng của Nga rồi dùng chúng để tài trợ cho việc sản xuất và mua vũ khí – bao gồm cả từ Mỹ, nếu họ muốn. Liên Minh Châu Âu, Anh, và Na Uy không thể thay thế hoàn toàn Mỹ với tư cách là những người ủng hộ Ukraine, nhưng những bước đi thực dụng này sẽ ngay lập tức nâng cao vai trò của châu Âu và mang lại cho Ukraine sự trợ giúp cần thiết.

Năm 1918, nước Nga Bolshevik đã ký một hiệp ước với Đức, cam kết công nhận nền độc lập của Ukraine, chấp nhận rút quân và ngừng tuyên truyền trên lãnh thổ Ukraine. Cùng lúc đó, Kyiv cũng ký một thỏa thuận với Đức, đổi các nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ – chủ yếu là ngũ cốc và thịt – để lấy sự bảo vệ của quân Đức trên đất Ukraine. Chỉ trong vòng một năm, thỏa thuận đã sụp đổ. Người Đức rút lui, Hồng Quân Nga tiến vào, và nhà nước Ukraine không còn có thể tồn tại. Phải mất 104 năm kể từ thời điểm đó cho đến cuộc xâm lược của Nga vào năm 2022, châu Âu mới chính thức thừa nhận rằng Ukraine thuộc về mình khi khởi động lộ trình để nước này gia nhập EU.

Moscow thực sự không bao giờ thay đổi, nhưng châu Âu thì có thể.

Dmytro Kuleba là ngoại trưởng Ukraine từ năm 2020 đến năm 2024. Ông hiện là nghiên cứu viên cấp cao tại Trung tâm Belfer của Đại học Harvard.

Nguồn: Nghiên Cứu Quốc Tế

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”