Vì sao Ta nên quan tâm tới nhân quyền khi Tây làm ngơ

Các nhà hoạt động đòi quyền con người bị kết án nặng nề, hàng trên, từ trái: Phạm Đoan Trang, Trịnh Bá Phương; hàng dưới từ trái: Nguyễn Thị Tâm, Đỗ Nam Trung. Ảnh: Youtube
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Năm 2021 khép lại với một loạt những bản án nặng cho những nhà hoạt động đòi quyền con người ở Việt Nam trong bối cảnh phương Tây mải lo chuyện nội bộ và đối phó với Covid. Đây là lúc chính người Việt cần lên tiếng bảo vệ người Việt vì một môi trường sống lành mạnh hơn cho tất cả.

Bất chấp những điều luật võ đoán được viện dẫn ra để kết án tới 10 năm tù như trường hợp nhà hoạt động Đỗ Nam Trung hay chín năm với Phạm Đoan Trang, bản chất của sự việc là bịt miệng những người dũng cảm chỉ trích chính quyền và nói thật với người dân. Mà chỉ trích và nói thật là quyền không thể tước bỏ của con người.

“Quyền con người cần thiết không phải cho sự sống mà là cho cuộc sống có phẩm giá, một cuộc sống xứng đáng với con người,” Giáo sư khả kính Jack Donnelly của Đại học Denver, Hoa Kỳ, viết trong cuốn “Nhân quyền phổ quát trong lý thuyết và thực tiễn”.

Trên thực tế, hàng chục nhà hoạt động bị cầm tù trong những năm gần đây đòi hỏi những điều không khác gì những người cộng sản từng đòi hỏi và cũng từng bị thực dân Pháp cầm tù cả trăm năm về trước. Họ đòi quyền có cuộc sống đầy đủ phẩm giá trên chính quê hương mình.

Vài chục năm trước đây cả triệu người biết rằng đòi cũng không được nên đã đánh cược cả mạng sống của mình khi vượt biển tìm đến những xứ đã có sẵn sự tôn trọng phẩm giá con người. Ngày nay nhiều người vẫn ra đi để mưu cầu hạnh phúc tới mức chết tập thể trong thùng công-ten-nơ hồi cuối năm 2019 hay chết đơn độc trên chiếc thuyền hơi mong manh khi từ Pháp vượt biển sang Anh ngay trong tháng trước.

Vẫn theo cuốn “Nhân quyền phổ quát trong lý thuyết và thực tiễn,” ‘thể hiện, tôn trọng, thụ hưởng và thực thi là bốn mảng căn bản của nhân quyền trong thực tiễn.’ Tại Việt Nam ngày nay, người ta đôi khi có quyền thể hiện nhưng nhà nước không tôn trọng, không cho thụ hưởng và từ chối thực thi quyền mà người ta sinh ra hiển nhiên đã có; đó cũng là những quyền không thể bị tước bỏ khi nào họ còn được coi là con người. Một nhà báo Việt Nam từng bông đùa “tự do ngôn luận thì có nhưng tự do sau ngôn luận thì không chắc.”

Về lý thuyết, chính quyền Hà Nội luôn nói họ tôn trọng quyền con người. Nhưng những gì họ nói và việc họ làm lại khác nhau. Giáo sư Donnelly viết: “[Khi quyền con người trên lý thuyết và trên thực tế khác nhau] đòi hỏi quyền con người cho thấy sự cần thiết phải kéo thực tế (luật pháp và chính trị) trở lại với lý thuyết (đạo đức) [của con người].”

Ông cũng nói: “Các quyền con người có thể được xem là chuẩn mực của tính chính danh chính trị… Nhà nước nào bảo vệ nhân quyền, nhà nước đó có tính chính danh.” Bằng các bản án tước đoạt quyền con người căn bản, chính quyền Việt Nam đã tự bắn vào chân mình khi bào mòn tính chính danh của chế độ. Mà thượng bất chính, hạ tắc loạn. Nhìn vào một loạt các vụ án phi chính trị gần đây ở Việt Nam người ta có thể thấy một xã hội mà trong đó có không ít những kẻ vô luân. Cái đó có phần do tà quyền gây ra.

Đọc “Nhân quyền phổ quát trong lý thuyết và thực tiễn,” người ta cũng thấy: “Quyền con người mang lại cả mô hình thực tế lẫn các bước đi nhằm đạt được sự tự tạo [ra hình mẫu con người trong xã hội].”

Tác giả Donnelly nhận định: “Nhân quyền liên quan nhiều tới phiên bản tương lai của con người hơn là con người ở thể hiện tại.” Để tương lai của đa số người Kinh và hàng chục sắc dân thiểu số khác của Việt Nam rộng mở, chính người Việt cần lên tiếng đòi quyền cho chính mình. Sự can đảm đòi quyền, mà đáng ra phải được tôn trọng như quyền hít thở khí trời, cũng còn đảm bảo thế hệ tương lai không còn ai phải chui vào thùng công-ten-nơ hay dùng thuyền hơi để tìm nơi phẩm giá con người thực sự được coi trọng.

Nguyễn Hùng

Nguồn: VOA

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”